ĐIỀU TRỊ BỆNH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN 0906143408

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Các dấu hiệu đầu tiên mỗi ngày giúp phát hiện ung thư


Đi vệ sinh khi ngủ dậy, nếu thấy máu lẫn trong nước tiểu có thể là triệu chứng bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang hoặc ung thư bàng quang.


cac-dau-hieu-dau-tien-moingay-giup-phat-hien-ung-thu
Ảnh minh họa: Health.
Đờm sau khi ngủ dậy
Theo Health Sina, người khỏe mạnh khi ngủ dậy trong cổ họng không có đờm hoặc đôi khi có ít đờm. Trong trường hợp sau khi ngủ dậy cảm thấy cổ họng có nhiều đờm, phải khạc ra ngay, đó có thể là triệu chứng của bệnh viêm hầu họng, phế quản hoặc viêm phổi.
Để chẩn đoán chính xác là bệnh gì, cần xem màu sắc và tính chất đờm. Đờm trắng, nhớt có thể bạn bị cảm lạnh, nhiễm gió. 
Đờm vàng, tương đối đặc và dính cho thấy trong người bạn đang bị nóng hoặc cảm lạnh, gió xâm nhập vào cơ thể và hóa nhiệt. Đờm có máu thường là biểu hiện tình trạng phổi nóng, phổi khô, lao phổi hoặc ung thư phổi, cần đến bác sĩ để khám và chữa kịp thời.
Nước tiểu lần đầu trong ngày
Nước tiểu người khỏe mạnh thường có màu vàng nhạt và sáng. Màu sắc và lượng nước tiểu phụ thuộc vào loại thức ăn và lượng nước uống vào cơ thể hàng ngày. Nếu nước tiểu ít và có màu vàng sậm cho thấy bạn uống chưa đủ lượng nước cần thiết nên cần chú ý bổ sung thêm nước.
Nước tiểu của một số người mùi rất khó chịu, có thể do uống rượu, ăn tỏi, hành hoặc cơ thể quá nóng. Nước tiểu có mùi đường, vị ngọt khiến kiến bu vào, nhiều khả năng bạn đã mắc bệnh tiểu đường. 
Trường hợp đi tiểu nhiều lần liên tục hoặc bị đau là triệu chứng của bệnh viêm đường tiết niệu. Đặc biệt cần chú ý nếu trong nước tiểu lẫn máu, có thể là triệu chứng của bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang hoặc ung thư bàng quang.
Đại tiện lần đầu trong ngày
Bạn nên chú ý phân của mình trong lần đại tiện đầu tiên mỗi ngày. Phân của người khỏe mạnh thường có màu nâu vàng, hình thỏi và mềm, có mùi nhưng không quá nặng đến mức không thể chịu nổi. 
Nếu phân có độ kết dính nhiều, cảm giác đại tiện không hết, mùi nặng là do cơ thể bị nóng. Nếu phân khô, nặng mùi, màu tối sẫm là hiện tượng nóng ruột, nóng dạ dày, táo bón kéo dài. 
Nếu phân nhớt và có máu, khó bài tiết ra ngoài thường là triệu chứng bệnh kiết lỵ. Phân có máu là dấu hiệu bệnh trĩ, nứt hậu môn, loét dạ dày tá tràng, thậm chíung thư ruột kết.



Virus lây truyền qua đường tình dục gây nhiều bệnh ung thư 'bí ẩn'


Virus HPV là nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư đầu cổ, vòm họng, tử cung, hậu môn.

Các nhà nghiên cứu của Mỹ đang rất đau đầu khi phát hiện ra một số bệnh ung thư bí ẩn khiến các bác sĩ không thể xác định được nguyên nhân từ đâu và mức độ lây lan. Loại ung thư này được gọi tên là "ung thư biểu mô tế bào vảy không rõ nguyên nhân" (UPSCC). 
Khoảng 4% ung thư UPSCC thường tự xuất hiện ở đầu, cổ hoặc do di căn hay lan truyền từ nơi khác, nhưng nguồn gốc cụ thể của các tế bào ung thư là không rõ ràng. Điều này gây khó khăn cho công việc điều trị bệnh.
Các nhà nghiên cứu tại Johns Hopkins School of Medicine đã tìm thấy rằng u nhú ở người (HPV) có liên quan đến UPSCCs trong khu vực đầu và cổ, cụ thể hơn, ung thư hầu họng, phần giữa của họng bao gồm các Amiđan và lưỡi. Phát hiện này góp phần giải mã được những loại ung thư bí ẩn, giúp bác sĩ có phương thức điều trị đúng đắn. 
virus-lay-truyen-qua-duong-tinh-duc-gay-nhieu-benh-ung-thu-bi-n
Văcxin HPV. Ảnh: Medpagetoday
HPV là một loại virus lây truyền qua đường tình dục.  Theo Tổ chức Y tế Thế giới, HPV là nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung. Có khoảng 300.000 ca tử vong trên toàn thế giới mỗi năm.
HPV cùng với thuốc lá và rượu cũng là một nguyên nhân chính gây ung thư vòm họng, đặc biệt là ở nam giới. Thực tế này đã được phơi bày trong năm 2013, khi nam diễn viên nổi tiếng Michael Douglas bị ung thư cổ họng mà nguyên nhân được xác định là HPV.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh, ở Mỹ mỗi năm có khoảng 12.500 trường hợp mắc ung thư vòm họng là do HPV. HPV cũng gây ra các bệnh ung thư hậu môn, dương vật, âm hộ và âm đạo. Lý do là virus nằm trong cả hai bộ phận sinh dục và vùng hầu họng, và có thể lây lan qua đường hậu môn, âm đạo hay miệng. Các bác sĩ khuyên rằng thanh thiếu niên, cả nam và nữ nên đi chích ngừa HPV trước khi sinh hoạt tình dục.
Trong nghiên cứu mới này, Tiến sĩ Carole Fakhry dẫn đầu một nhóm nghiên cứu đã kiểm tra 84 bệnh nhân, chủ yếu là nam giới, được chẩn đoán UPSCC trong suốt 9,5 năm. Họ phát hiện ra khoảng 90% các bệnh nhân đều dướng tính với HPV. Điều này chỉ ra rằng HPV là nguyên nhân gây bệnh ung thư.
Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận sự gia tăng các trường hợp UPSCC tại Bệnh viện Johns Hopkins: Trong 4 năm đầu tiên của nghiên cứu này, đã có 14 trường hợp UPSCC; trong 3 năm tiếp theo, đã có 30 trường hợp; hơn 2,5 năm tiếp theo có 37 trường hợp. Sự gia tăng này phản ánh tỷ lệ nhiễm HPV trong giới trẻ tăng cao. "Tiêm văcxin HPV là cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh tật", ông Fakhry kết luận.
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí JAMA.



Ngừa ung thư từ tuổi 20



Ung thư ngày càng bành trướng không chừa ai. Độ tuổi mắc ung thư ngày càng trẻ. Theo bác sĩ chuyên khoa ung thư hàng đầu của Úc William Nelson - hiện là Giám đốc Trung tâm điều trị ung thư Sidney Kimmel thuộc ĐH Johns Hopkins (Úc), nếu bạn 20 tuổi có năm việc bạn nên làm để tránh nguy cơ ung thư trong 20 năm tới.

Bác sĩ chuyên khoa ung thư hàng đầu của Úc William Nelson
Điều quan trọng nhất dĩ nhiên là tránh hút thuốc dưới mọi hình thức. Ung thư phổi là dạng ung thư gây chết người hàng đầu ở Mỹ đối với cả phụ nữ và nam giới. Rủi ro ung thư phổi của người hút thuốc cao hơn người không hút thuốc tới 25 lần. Ngoài ung thư phổi, thuốc lá còn làm tăng rủi ro mắc 18 loại ung thư khác, như thanh quản, bàng quang, cổ tử cung, dạ dày, ruột kết.
Có lối sống lành mạnh giúp giảm 10%-15% nguy cơ ung thư và giảm rủi ro tử vong khi mắc ung thư đi 20%-25%. Kiểm soát cân nặng đừng để bị thừa cân cũng như thiếu cân, tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, hạn chế tối đa uống thức uống có cồn, hạn chế ăn thực phẩm nhiều mỡ nhiều đường…
Tránh phơi nắng quá nhiều - vì nắng là một thủ phạm gây ung thư da và không nhuộm da. Khảo sát của Học viện Da liễu Mỹ cho thấy tỉ lệ phát triển các khối u ác tính trên da ở người nhuộm da cao hơn 59% so với người không nhuộm da.
Khám sức khỏe đều đặn và tuân thủ các khuyến cáo của bác sĩ, đặc biệt khuyến cáo tầm soát ung thư. Tìm hiểu về lịch sử mắc ung thư của gia đình và cung cấp thông tin này cho bác sĩ. Một phụ nữ có tiền sử gia đình mắc ung thư vú có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn phụ nữ khác. Tầm soát ung thư thường xuyên rất cần thiết với những trường hợp thế này.
Cả nam giới và phụ nữ đều phải chích ngừa HPV - gây ung thư cổ tử cung, bộ phận sinh dục và một số loại ung thư khác và ngừa viêm gan siêu vi B (HBV) - nguyên nhân chính của ung thư gan. 



Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Dấu hiệu ung thư vòm họng

Khạc đờm có máu, chảy máu hoặc tắc nghẽn mũi, tai bị chẹn, nghe tiếng ồn vang vọng, khiếm thính, đau đầu, cổ sưng, mí mắt rủ, tê mặt... là dấu hiệu phổ biến của ung thư vòm họng.

cac-dau-hieu-canh-baoung-thu-vom-vong

BS Lim Hong Liang, chuyên khoa Ung thư đầu mặt cổ, Trung tâm ung thư Parkway (PCC), cho biết ung thư vòm họng thường gọi là ung thư mũi, xảy ra khi các tế bào ung thư phát triển từ các mô trong mũi hầu, khu vực phía sau khoang mũi và trên mặt sau của cổ họng. 
Do có tính chất đặt biệt nên ung thư biểu mô vòm họng thường được đề cập như một bệnh tồn tại riêng biệt bên cạnh các loại ung thư cổ và đầu khác.
Đến nay chưa có kết luận về nguyên nhân chính xác gây bệnh ung thư nói chung. Bước đầu các nhà khoa học thấy rằng tình trạng nhiễm virus Epstein Barr (EBV) là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của ung thư vòm họng. 
Nghiên cứu còn cho thấy nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vòm họng như ăn quá nhiều cá muối từ khi còn nhỏ, ăn nhiều thực phẩm bảo quản và lên men, hút thuốc lá. 
Trong gia đình, cha mẹ bị bệnh này thì con cái của họ có nguy cơ mắc cao hơn những người khác.
Các triệu chứng phổ biến của ung thư vòm họng (NPC) bao gồm:
- Chảy máu hoặc tắc nghẽn mũi.
- Đờm có máu.
- Các triệu chứng ở tai như tai bị chẹn, tiếng ồn vang vọng, khiếm thính.
- Đau đầu.
- Cổ sưng lên từ hạch bạch huyết phình to.
- Mí mắt rủ xuống, hoa mắt, tê mặt do liên quan đến thần kinh sọ não.
- Các triệu chứng bệnh diễn biến nặng như giảm cân, mệt mỏi, đau xương…
Nếu bệnh nhân có biểu hiện nghi ngờ ung thư vòm họng, bác sĩ sẽ kiểm tra trực quan mặt sau của mũi người bệnh bằng cách soi đèn. Khi đó, một ống sáng linh hoạt được đưa qua lỗ mũi vào mặt sau của khoang mũi, phát hiện bất thường bác sĩ sẽ chỉ định sinh thiết để xác nhận bệnh lý.
Sự tiên lượng và các phương pháp điều trị phụ thuộc vào giai đoạn (mức độ) của bệnh.  Đối với bệnh nhân ung thư vòm họng giai đoạn đầu (từ giai đoạn một đến 4B), phác đồ điều trị chủ yếu là xạ trị. 
Phương pháp này sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và chỉ ảnh hường đến các tế bào trong khu vực điều trị. 
Các khu vực được điều trị bao gồm không gian phía sau mũi cũng như hai bên cổ. Các kỹ thuật bức xạ hiện đại hơn như hình ảnh hướng dẫn xạ trị (IGTR) có thể cung cấp các tia xạ đến khu vực cần điều trị chính xác hơn và ít tác dụng phụ hơn.
Bệnh nhân ở giai đoạn muộn phải kết hợp điều trị bằng hóa trị lẫn xạ trị. Hóa trị van là phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân bị di căn và tái phát sau khi xạ trị. 
Phẫu thuật có thể tính đến với trường hợp có khối u tái phát trong mũi mà không có ở bất kỳ vị trí nào khác. Phẫu thuật cổ cũng có thể được xem xét ở những bệnh nhân có hạch ở cổ sau khi xạ trị.
Các triệu chứng sau đây ở giai đoạn nặng hơn và có nguy cơ tái phát cao sau điều trị:
- Sự xâm lấn đáy họp sọ bởi khối u nguyên phát (giai đoạn 3).
- Sự xâm nhập các dây thần kinh xung quanh sọ (giai đoạn 4A), với các biểu hiện như rũ mí mắt, hoa mắt…
- Các hạnh bạch huyết phình to ở cổ, đặt biệt khi hạch lớn hơn 6 cm ở cả hai bên cổ (giai đoạn 4B) hoặc hạch ở hố thượng đòn tại đáy cổ, trên xương đòn (giai đoạn 4B).
- Ở giai đoạn nặng của ung thư vòm họng, các vị trí thường bị di căn là xương, phổi và gan. Khi đó, việc điều trị chủ yếu là giảm nhẹ đau đớn chứ không thể cứu sống bệnh nhân. 


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Những loại ung thư thường gặp

Bệnh ung thư ngày càng xảy ra nhiều. Nếu được phát hiện và điều trị sớm thì khả năng chữa khỏi cao hơn, cũng như chi phí ít hơn.

Nguy cơ cao từ tuổi trung niên
Theo TS.BS Phạm Xuân Dũng (Phó giám đốc BV Ung bướu TPHCM), bình quân mỗi năm trên thế giới có gần 13 triệu người mắc mới bệnh ung thư và hơn 7,5 triệu người tử vong. Riêng trong nước, hằng năm có khoảng 116.000 người mắc mới bệnh ung thư (tính chung các loại); hơn 80.000 bệnh nhân ung thư bị tử vong.
Các loại ung thư thường gặp trên thế giới đối với nam gồm: ung thư phổi, tuyến tiền liệt, trực tràng, bao tử, gan... Còn ở nữ thường gặp là ung thư vú, cổ tử cung, trực tràng, phổi, bao tử... 
Theo TS.BS Xuân Dũng, tại BV Ung bướu TPHCM, thống kê gần đây nhất (năm 2013) cho thấy 10 loại ung thư vào bệnh viện này nhiều nhất theo thứ tự gồm: ung thư vú, cổ tử cung, tuyến giáp, phổi, buồng trứng, gan, vòm hầu, dạ dày, da, trực tràng. Bình quân, mỗi năm lượng bệnh nhân ung thư vào BV Ung bướu TPHCM tăng 10%.
Khảo sát về xuất độ ung thư trên địa bàn TPHCM trong 5 năm trở lại đây với 33.126 bệnh nhân ung thư, kết quả cho thấy 5 loại ung thư gặp nhiều nhất ở nữ gồm: ung thư vú, cổ tử cung, đại trực tràng, phổi và tuyến giáp. Còn ở nam gặp nhiều nhất theo thứ tự là: ung thư phổi, gan, đại trực tràng, dạ dày, vòm hầu. 
Qua khảo sát trên cũng cho thấy ở cả nam và nữ khi bước qua tuổi 40 thì nguy cơ mắc các bệnh ung thư cao hơn.

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

U tủy sống có thể trị khỏi bằng phẫu thuật

Đa số trường hợp u tủy đều phải mổ để giải quyết khối u và giải phóng sự chèn ép.

Thông thường các loại u tân sinh phát triển không ngừng, ngày càng to ra, chèn ép nhiều vào tủy và hệ thống thần kinh nên buộc phải mổ. 
Một số loại không phải là u tân sinh nhưng cũng phát triển to ra, chẳng hạn như nang thượng bì hoặc u quái, u mỡ… khi đã có triệu chứng cũng phải mổ lấy u. 
Chỉ có các u lympho (lymphoma) đáp ứng nhạy với hóa trị và u tế bào mầm (germinoma) nhạy với tia xạ, còn hầu hết các trường hợp khác đều phải giải quyết bằng phẫu thuật.
Đối với u ở màng cứng ngoài tủy, việc mổ lấy u khá dễ dàng vì chúng thường chỉ dính một phần nhỏ vào các dây thần kinh hoặc màng tủy. 
Những trường hợp u màng não tủy dính vào màng tủy ở phía trước, có thể dễ dàng cắt bỏ màng tủy để tránh tái phát, song việc khâu kín nó để tránh dò dịch não tủy ra ngoài rất khó khăn. 
Hiện nay, với xu hướng phẫu thuật ít xâm lấn, nhiều tác giả chủ trương chỉ bóc tách cơ một bên, cắt một bên bản sống và sau đó cắt u ra từng mảnh nhỏ để lấy ra khối u trong màng cứng. Nhờ vậy, cuộc mổ trở nên nhẹ nhàng hơn.
chua-u-tuy-song-bang-phau-thuat
Khối u tủy sống sau khi được phẫu thuật lấy ra. Ảnh: Tiến sĩ, bác sĩ Võ Xuân Sơn.
Trong các trường hợp u ngoài màng cứng, việc lấy hết khối u thường khó khăn hơn vì chúng có thể ăn lan ra nhiều hướng khác nhau, hủy xương nhiều, chảy máu nhiều, đặc biệt khi xương bị hủy thì phải nạo sạch, ghép xương rồi cố định nẹp vít… 
Cuộc mổ này khá nặng nề. Hơn nữa những ca u ngoài màng cứng thường là di căn, khả năng hồi phục kém, thời gian sống còn lại không dài. 
Chính vì vậy bác sĩ phải cân nhắc có nên mổ không. Nếu thấy phẫu thuật không có lợi, nhiều bác sĩ chỉ định hóa trị, xạ trị, dù hầu như không có tác dụng gì mà chỉ giúp người bệnh không cảm thấy bị bỏ rơi.
Đối với các trường hợp u nội tủy, trước đây người ta cho rằng mổ chỉ nhằm giải ép chứ không thể lấy hết khối u. Phần xử lý khối u được giao cho khâu xạ trị. Tuy nhiên càng về sau các bác sĩ nhận thấy xạ trị không những không diệt được khối u mà còn diệt cả phần tủy không bị bệnh, góp phần sinh ra các u khác.
Gần đây vai trò của phẫu thuật trong điều trị u nội tủy mới được xác định một cách đúng đắn. Với sự phát triển của các phương tiện hỗ trợ phẫu thuật và chẩn đoán, việc mổ lấy hết khối u trong tủy không còn là "chuyện viễn vông". 
Sau nhiều ca mổ lấy hết u, người ta mới nhận ra rằng đối với u nội tủy có độ ác tính thấp, chỉ cần mổ lấy hết u là triệt để, không cần xạ trị hay hóa trị, khả năng tái phát rất thấp.
Khó khăn lớn nhất trong phẫu thuật u nội tủy là phải đảm bảo mổ lấy hết u mà không làm hư tủy. Đây thực sự là một thách thức rất lớn cho các phẫu thuật viên thần kinh. 
Hiện nay, số phẫu thuật viên còn sống trên thế giới mổ thành công trên 100 trường hợp u nội tủy chỉ đếm được trên đầu ngón tay. 
Tuy nhiên, số bác sĩ đã từng mổ u nội tủy thì nhiều hơn, mỗi người mổ một hoặc vài ca và chỉ cần một trong số các ca đó thành công thực sự (nghĩa là lấy hết u mà bệnh nhân không xấu hơn) cũng xếp vào hàng “top” rồi.
Ngoài tay nghề cùa bác sĩ, sự thành công của ca mổ lấy toàn bộ khối u nội tủy phụ thuộc một phần vào phương tiện. 
Đầu tiên cần phả có kính hiển vi phẫu thuật. Bác sĩ sẽ không thể thành công nếu mổ bằng mắt thường bởi để bóc tách được khối u ra khỏi tủy cần phải phóng đại lên cỡ 16 đến 20 lần. 
Hiện nay một số bác sĩ Việt nam có thể giải quyết khá tốt những trường hợp u nội tủy. Các chuyên gia kỳ vọng trong tương lai, nước ta sẽ trở thành một trong một số ít nơi trên thế giới điều trị tốt những khối u này.
Ngoài các trường hợp nêu trên còn có một số ca khá đặc biệt là những u hình quả tạ đôi. Những khối u này thường có một phần nhỏ nàm trong ống sống, chèn ép vào tủy, phần u lớn hơn nằm ở ngoài ống sống, lan vào trong bụng hoặc ngực. 
Trước đây người ta phải mổ hai lần để lấy hết các khối u này. Tuy nhiên việc mổ nhiều lần không phải lúc nào cũng suôn sẻ vì trong nhiều trường hợp, khâu cầm máu tại vị trí khối u được cắt ở lần đầu rất khó khăn.
Với những trường hợp này, yêu cầu phải mổ lấy hết khối u trong một cuộc phẫu thuật là rất bức bách. Hiện nay có một kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu này đó là một đường mổ được thực hiện từ phía sau và luồn ra phía trước để lấy hết khối u dù nó nằm trong lồng ngực hay bụng. 
Hiện tại Việt Nam đã giải quyết thành công những khối u này mang lại hiệu quả điều trị cao không khác gì các trung tâm lớn trên thế giới.
Tóm lại, ngoài một số rất ít các trường hợp đặc biệt, đa số khối u tủy đều phải cần đến một cuộc mổ để giải quyết u, giải phóng sự chèn ép. Cuộc mổ sẽ dễ dàng nếu u ở trong màng cứng và ngoài màng tủy, sẽ khó điều trị hơn nếu u ngoài màng cứng, đặc biệt khó khăn nếu là u nội tủy.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Cần hiểu đúng về căn bệnh ung thư

GS.BS Nguyễn Chấn Hùng cho rằng, bệnh ung thư không phải là “trời kêu ai nấy dạ” như người ta thường nghĩ, mà là “bụng làm dạ chịu”; yếu tố di truyền trong căn bệnh này chỉ chiếm từ 5 - 10%.
Ung thư là chết?
Thưa Giáo sư, nhiều người dân cho rằng ung thư là chứng bệnh nan y, bị ung thư chỉ có chết chứ không chữa trị nổi; trong khi y học thì vẫn tiến bộ không ngừng… Vậy phải chăng y học cũng bó tay trước bệnh ung thư?
Cái đó là quan niệm cũ. Ung thư chỉ là nan y khi phát hiện trễ. Hiện nay có nhiều phương pháp phát hiện sớm, nhưng người bệnh phải biết, bác sĩ phải biết, thì cơ may điều trị khỏi gấp nhiều lần. Ví dụ, ung thư cổ tử cung (CTC) chia làm giai đoạn 1,2,3,4… 

Phát hiện càng sớm, trị đúng cách, càng có khả năng khỏi bệnh. Tôi làm nghề này, mấy chục năm nay điều trị người bệnh ung thư CTC; người 10 năm - 20 năm - 30 năm trị ung thư CTC tôi gặp hoài!
Ung thư vú cũng vậy. Khi nó còn là một cục sờ thấy khoảng 1 cm - giai đoạn 1, nếu được điều trị đúng cách thì 75 - 85% có kết quả tốt.
Nhưng cũng cái xấu thực sự như ung thư gan. Nó im lìm lắm, nên khi phát hiện ra thì đã muộn. Hay ung thư phổi, có người hút thuốc 20 - 30 năm, rồi chỉ ho húng hắng sơ sơ…; bề ngoài vẫn tươi tỉnh mà đi bệnh viện chụp thì bác sĩ thấy cục u lớn rồi.
Nhưng những ung thư này vẫn có cách ngừa được. Chống ung thư phổi bằng không hút thuốc lá. Chống ung thư gan bằng tiêm ngừa vaccine chống viêm gan siêu vi B, C.
Nếu chúng ta thực hiện tốt được chiến lược phòng - chống, sau 15 - 20 năm tỷ lệ người mắc các bệnh ung thư này nhất định sẽ giảm. 
Việc chữa trị hiện nay, ở trong nước, số cơ sở điều trị còn ít nhưng những nguyên tắc lớn trong điều trị chúng ta đã phát triển được ngang tầm các nước lân cận. Các thuốc đặc trị hầu hết đều có, máy xạ trị loại tốt nhất, chúng ta có những bác sĩ phẫu thuật có tay nghề. Nếu chúng ta trị đúng bệnh và kịp thời thì kết quả tốt.
Hiện Tình trạng quá tải ở BV Ung bướu cũng như BV K Hà Nội, liệu có cách nào để giải quyết, thưa Giáo sư?
Bệnh viện chúng tôi thành lập năm 1985, lúc đó có 350 giường; mà nay đã có 1.100 giường; nhưng vẫn không đủ chỗ cho bệnh nhân. Bệnh viện liên tục phát triển số giường, số bác sĩ, nâng cao trình độ điều dưỡng và tăng cường đầu tư trang thiết bị. 
Năm 1985 chỉ có 1 máy Cobalt cũ bị hư. Nay có 3 máy Cobalt mạnh, có 1 máy xạ trị tần suất liều cao, có những máy gia tốc hiện đại… thời gian điều trị được rút ngắn nhiều. Có 10 phòng mổ, phẫu thuật mọi loại ung thư. Có nhiều loại thuốc để điều trị phù hợp cho người bệnh. Bệnh viện cố gắng vô cùng. 
Chúng tôi đã trở thành y hiệu, một địa chỉ ngày càng tin cậy nên bệnh nhân đến ngày càng đông. Bệnh nhân ở các tỉnh về (bệnh nhân từ các tỉnh chiếm 70%, bệnh nhân của TPHCM chiếm 30%), người nhà đi theo chăm sóc. Nên bệnh viện bị quá tải thực sự. Chuyện này không phải là chuyện của riêng bệnh viện nữa, tôi lo từ lúc tóc còn xanh nay tóc đã bạc rồi… 

Để giảm tải, mặc dầu chúng tôi có giúp các tỉnh mở khoa ung bướu; nhưng khoa ung bướu phải có xạ trị. Có những nơi đã 10 năm rồi mà địa phương chưa trang bị. Bộ Y tế khen BV Ung bướu đã xây dựng các mạng lưới, nhưng chỉ khen chứ không có hỗ trợ cụ thể…
Ung thư là bệnh có thể phòng tránh được
Như vậy, để chống ung thư, quả thật cần thay đổi nhận thức của các nhà quản lý và nhận thức của cộng đồng nữa ?
Đúng như vậy. Có bác sĩ tốt, thuốc tốt, máy móc tốt… Nhưng nếu mọi người không biết sớm về bệnh thì cũng không giải quyết được vấn đề. Nên trong chiến lược phòng chống ung thư phải làm co mọi người biết về căn bệnh này như thế nào. Truyền thông, báo, đài đóng vai trò quan trọng. 
Tôi đã nói về vấn đề ung thư trên VTV, rồi Đài Vĩnh Long, Bình Dương… Nhiều người sau đó gọi điện nói: cám ơn bác sĩ, chồng tôi đã bỏ thuốc rồi! hay: cám ơn bác sĩ đã nói rõ, giờ tôi đã hiểu ăn uống thế nào có thể gây ung thư. 
Có người đặt ra câu hỏi: “Ăn lỡ nước tương đen có gây ung thư không?”. Tôi nói: cảnh giác với nước tương đen là đúng. Nhưng hãy nhớ còn có các nguy cơ khác gây ung thư: như thuốc lá chứa 60 chất gây ung thư thật sự trên người.
Ở TPHCM, phụ nữ cứ 12/100.000 người bị ung thư phổi (số liệu 2003 - 2004), và nam giới gần 30/100.000 người. Vậy phụ nữ sao không hút lại bị ung thư phổi nhiều thế? Đó là do thụ động. Vậy người chồng phải ngưng hút thuốc, nếu thương vợ con. 
Rồi thói quen ăn uống: ăn dưa muối mặn, cá mắm, cá khô, cà pháo mắm tôm, kim chi… những thức ăn chứa nitrix và nitrat; có thể gây ung thư dạ dày. Cũng không nên ăn nhiều các loại fast food. Ví dụ người ta dùng mỡ nóng chiên đùi gà, mà các cháu nhỏ ăn nhiều nên quen, “ghiền”, thật không tốt. 
Ung thư gan chiếm tỷ lệ cao, vậy phải tiêm vaccine chống viêm gan B ở các cháu sơ sinh. 
Nên ăn nhiều rau, trái cây, có vitamin và chất xơ. Phải tập thể dục, tránh béo phì, giữ cân không lên. Làm vậy tránh được nguy cơ ung thư. 
Ung thư ruột kết ở nam và nữ đều nhiều. Là do ăn nhiều thịt chiên, nướng, nhiều chất béo. Phải để ý bởi triệu chứng rất mập mờ, tưởng như rối loạn tiêu hóa. Bệnh này nếu soi ruột phát hiện sớm và mổ kịp thời thì chứa trị tốt.
Về truyền thông, báo chí tuyên truyền cũng nên có liều lượng, tránh làm cho bà con hoang mang, hoảng sợ. Ăn (đồ không tốt) lặp đi lặp lại mới sinh bệnh chứ không phải lỡ ăn một vài lần rồi lo sợ hết hồn!
Thưa giáo sư, việc nghiên cứu căn bệnh ung thư ở nước ta được tiến hành ra sao và đóng góp thế nào vào việc đẩy lùi căn bệnh?
Tổ chức Y tế thế giới gợi ý quan điểm phòng chống ung thư với các nước nghèo là nghiên cứu dịch tễ học, khảo sát xem bệnh ung thư loại nào nhiều để xây dựng chiến lược điều trị, phương pháp điều trị.
Từ 1997 tới nay, nhờ cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư tập huấn cho chúng ta cách ghi nhận tỷ lệ các bệnh ung thư, các con số thu được rất bổ ích. 

Số liệu nghiên cứu cho thấy, giữa các bệnh ung thư thì có bệnh tăng, có bệnh giảm. Ví dụ ở TPHCM vào khoảng những năm 1980 ung thư cổ tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất, ung thư vú đứng hàng thứ 2… 

Đến năm 2003 - 2004, ung thư vú lại đứng hàng đầu, ung thư cổ tử cung (CTC) đứng hàng 2. Trước kia mỗi năm có gần 30/100.000 phụ nữ mới mắc ung thư CTC hàng năm thì nay chỉ còn 16/100.000 thôi. 

Nguyên nhân vì sao có sự thay đổi này? Tôi cho rằng, có một số nguyên nhân: Gần đây phụ nữ sợ HIV nên quan hệ tình dục kỹ hơn; họ đi khám phụ khoa nhiều hơn nên có thể phát hiện tổn thương tiền ung thư sớm, họ sinh đẻ ít hơn nên vệ sinh sinh dục tốt hơn…
Còn ung thư vú tăng lên vì sao? Tôi cũng cho rằng do người phụ nữ nhập vào đà phát triển công nghiệp hóa nên đi làm nhiều hơn, muốn độc thân lâu hơn, có con trễ hơn, họ ăn nhiều chất béo hơn…; rồi có phụ nữ hút thuốc lá, hoặc bị khói thuốc lá thụ động... Có thể là những nguyên nhân.
Ở Hà Nội, ung thư vú đứng hàng đầu; còn ung thư CTC thì thấp hơn nhiều so với TPHCM. Có thể nguyên nhân vì phong trào sinh đẻ kế hoạch hóa thực hiện từ lâu, phụ nữ sinh đẻ ít.
Cũng ở Hà Nội, ung thư phổi ở đàn ông đứng hàng đầu, rồi đến ung thư dạ dày.
Ở TPHCM, ung thư phổi cũng nhiều nhất, kế đó đến ung thư gan.
Ung thư phổi ở đâu cũng nhiều, do có nhiều người hút thuốc lá và bị ảnh hưởng bởi khói thuốc. 

Tóm lại, bệnh có nguyên nhân từ bên ngoài nhiều hơn. Yếu tố di truyền chỉ chiếm 5 - 10%, và người ta cho rằng “Ung thư thì trời kêu ai nấy dạ”; nhưng thực ra tôi cho rằng là “bụng làm dạ chịu”; ta ăn uống, sinh hoạt thế nào, thì sức khoẻ của ta như vậy.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons