ĐIỀU TRỊ BỆNH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN 0906143408

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

Australia: Thuốc mới giúp tế bào ung thư phát sáng

Một loại thuốc mới khiến các tế bào ung thư ở não phát sáng trong quá trình phẫu thuật đang được sử dụng lần đầu tiên tại Australia.

Các nhà phẫu thuật tại Bệnh viện Hoàng gia Melbourne đã sử dụng loại thuốc trên, gọi là gliolan, nhằm giúp nhận diện các mô não bị ung thư trong quá trình phẫu thuật để bóc tách chúng khỏi não.
Loại thuốc này tác động lên các khối u thần kinh đệm cấp cao, một kiểu u não rất khó tiên lượng khả năng tiến triển.
Ngày 16/9 vừa qua, tiến sĩ Kate Drummond đã lần đầu tiên sử dụng thuốc này khi phẫu thật cho bệnh nhân David Hall, 53 tuổi, có u thần kinh đệm ác tính.
Trước đó một ngày, đồng nghiệp của bà là tiến sĩ David Walker cũng tiến hành ca mổ áp dụng kỹ thuật tương tự tại Brisbane
Phát biểu trên kênh truyền hình ABC, tiến sĩ Drummond cho biết, kỹ thuật này đã được sử dụng phổ biến tại châu Âu và Vương quốc Anh.
Các bác sĩ cho bệnh nhân uống thuốc khoảng 3-4 tiếng trước ca mổ và thuốc sẽ dần tích tụ tại các tế bào của khối u. Khi tiến hành vi phẫu thuật, những tế bào này sẽ phát sáng dưới ánh sáng xanh, giúp các bác sĩ nhận biết dễ dàng.
“Về cơ bản, loại thuốc này giúp các bác sĩ hình dung khối u rõ hơn để có thể phân biệt nó với phần não bình thường. Do vậy, chúng tôi có thể bóc tách được nhiều khối u hơn trước đây, qua đó có thể bảo vệ các bộ phận não bình thường. Điều này khiến các ca phẫu thuật phức tạp trở nên hiệu quả và an toàn hơn đối với bệnh nhân,” tiến sĩ Drummond giải thích.
Theo tiến sĩ Drummond, các loại thuốc khác thường có nguy cơ gây dị ứng, nhưng tác dụng phụ chủ yếu của loại thuốc này là làm cho người ta nhạy cảm hơn với ánh sáng trong vòng một ngày sau khi dùng thuốc. Tuy nhiên, mặc dù các bệnh nhân dùng thuốc này không nên phơi nắng, nhưng với ánh sáng bình thường xung quanh thì không thành vấn đề.
Số liệu của Viện Y tế và Phúc lợi Australia (AIHW) cho biết, tổng cộng có 1.123 bệnh nhân tử vong vì ung thư não tại xứ sở chuột túi trong năm 2007.
Theo Vietnam+

Australia sử dụng thuốc mới nhận diện tế bào ung thư não

Loại thuốc này khiến các tế bào ung thư ở não phát sáng trong quá trình phẫu thuật.

Các nhà phẫu thuật tại BV Hoàng gia Melbourne đã sử dụng loại thuốc có tên gliolan, giúp nhận diện các mô não bị ung thư trong quá trình phẫu thuật để bóc tách chúng khỏi não.
 
Loại thuốc này tác động lên các khối u thần kinh đệm cấp cao, một kiểu u não rất khó tiên lượng khả năng tiến triển.
 
Tiến sĩ Kate Drummond cho biết loại thuốc này đã được sử dụng lần đầu trong cuộc phẫu thuật ngày 16/9 cho một bệnh nhân 53 tuổi bị u thần kinh đệm ác tính. Loại thuốc này giúp các bác sĩ nhận diện khối u rõ hơn và phân biệt nó với phần não bình thường. Điều này khiến các ca phẫu thuật phức tạp trở nên hiệu quả và an toàn hơn đối với bệnh nhân.
 
Theo Tiến sĩ Drummond, các loại thuốc khác thường có nguy cơ gây dị ứng, nhưng với thuốc gliolan, tác dụng phụ chủ yếu là bệnh nhân nhạy cảm hơn với ánh sáng trong vòng 1 ngày sau khi dùng thuốc.
Số liệu của Viện Y tế và Phúc lợi Australia (AIHW) cho biết tổng cộng có hơn 1.000 bệnh nhân tử vong vì ung thư não tại nước này trong năm 2007.
Theo VOV/ TTXVN

Đậu nành gây ung thư vú?

Nhiều bác sĩ khuyên phụ nữ bị ung thư vú hoặc có nguy cơ ung thư vú cao nên giảm lượng phytoestrogen. Mà phytoestrogen có nhiều nhất trong đậu nành.

Bác sĩ có thể đang lo ngại rằng estrogen có thể gây ung thư vú. Một trong những cách điều trị ung thư vú hiệu quả là ngăn chặn sự sản sinh quá mức estrogen. Đậu nành có estrogen nhưng tôi tin rằng một lượng vừa phải đậu nành trong chế độ ăn vẫn là rất tốt cho hầu hết chúng ta.
 
Trong chế độ ăn uống hằng ngày, có một số thực phẩm có nguồn gốc thực vật có chứa hợp chất gọi là phytoestrogens. Ngay cả đậu xanh, đậu phộng đều có phytoestrogen nhưng nhiều nhất là trong hạt lanh và các sản phẩm từ đậu nành.
 
Các hợp chất thuộc nhóm phytoestrogen này chính là  những flavonoid, isoflavones, coumestans hoặc lignans mà bạn thường nghe nói.
 
Các phytoestrogens có một số hoạt động giống estrogen “xịn” và có 1 số hoạt động kháng estrogen. Lo lắng là sự kích thích estrogen có thể thúc đẩy sự phát triển của bệnh ung thư vú.
 
Trong vài năm trở lại đây, chúng tôi nhận thấy những người dùng liệu pháp thay thế estrogen trong giai đoạn tiền mãn kinh tăng nguy cơ bị ung thư vú và kết quả này đáng chú ý hơn mọi hình thức kích thích estrogen khác.
 
 
Ngay cả trong số các sản phẩm đậu nành cũng có sự khác biệt về số lượng phytoestrogen. Một cuộc khảo sát các loại thực phẩm cho thấy 100 gram hạt lanh có lượng phytoestrogen cao gấp 4 lần so với 100g đậu nành; 100 gram đậu nành có lượng phytoestrogen nhiều gấp 3 so với 100 gram đậu phụ và gấp 33 lần so với 100g sữa đậu nành.  
 
Có ý kiến cho rằng một chế độ ăn uống với lượng phytoestrogens từ mức vừa đến mức cao có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và ngăn ngừa loãng xương.
 
Một số nghiên cứu dân số cũng cho thấy lượng phytoestrogen cao có thể có tác dụng phòng ngừa bệnh ung thư vú và lạc nội mạc tử cung ở phụ nữ và bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới. 
 
Đây cũng là một trong những lý do giải thích tại sao dân châu Á có tỷ lệ ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung và ung thư tuyến tiền liệt thấp.  
Trong khi các nghiên cứu dựa trên khảo sát dân số cho thấy lợi ích lớn từ chế độ ăn giàu phytoestrogens thì các nghiên cứu động vật lại nhận thấy với lượng phytoestrogens lớn, sẽ thực sự kích thích sự phát triển ung thư vú và ung thư tử cung.  
Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là phytoestrogens làm giảm giảm tác dụng của 1 số loại thuốc dùng điều trị ung thư vú. Vì thế nhiều bác sĩ khuyên phụ nữ bị ung thư vú hoặc có nguy cơ ung thư vú cao nên giảm lượng phytoestrogen trong chế độ ăn.  
Đối với người có nguy cơ mắc ung thư vú ở mức trung bình, liều lượng là vấn đề cốt lõi trong các câu trả lời cho câu hỏi của bạn. Có một sự khác biệt giữa các mức cao cao của phytoestrogens trong chế độ ăn uống và liều lượng rất cao trong việc dùng chất bổ sung.
 
Sẽ là hợp lý nếu một người có nguy cơ mắc bệnh trung bình ăn 1 lượng vừa phải các sản phẩm đậu nành như đậu phụ, bơ đậu nành, hạt đậu nành, đậu nành và bánh mì kẹp thịt. Đó sẽ là một phần của chế độ ăn uống khỏe mạnh toàn diện.
 

Theo Nhân Hà - Dân trí/ CN

Hàng nghìn giếng nhiễm chất độc gây ung thư, dân không hề biết

Trong khi hàng nghìn giếng ngầm ở một số tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị nhiễm độc tố Arsen, người dân lại vẫn hoàn toàn mù tịt thông tin.

“Thần chết” rình rập!
Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có khoảng hơn 1 triệu giếng khoan, trong đó nhiều giếng có nồng độ Arsen cao hơn từ 20 - 50 lần nồng độ cho phép. Riêng ở ĐBSCL, nồng độ Arsen cao trên 10ppb (10ppb = 0,01mg/l) chủ yếu tập trung vùng ven sông Tiền, sông Hậu và vùng Đồng Tháp Mười.
Thống kê mới nhất cho thấy, tại An Giang, trong số 2.966 mẫu nghiên cứu có 40% số giếng bị nhiễm trên 50ppb, 16% nhiễm dưới 50ppb.
Tại Long An trong số 4.876 mẫu nước ngầm có 56% mẫu nhiễm Arsen. 
Tại Đồng Tháp trong 2.960 mẫu nước ngầm có 67% nhiễm Arsen, trong đó huyện Thanh Bình có 85% mẫu thử nhiễm Arsen với hàm lượng trên 50ppb.
Arsen được liệt kê là một trong những chất gây ung thư và nằm trong danh sách 20 chất độc nhất.
Tại Kiên Giang qua lấy 3.000 mẫu khảo sát có 51% nhiễm Arsen… Kết quả xét nghiệm mẫu nước của Trung tâm Y tế dự phòng huyện An Phú, An Giang năm 2008, cho thấy 253/260 mẫu bị nhiễm Arsen với nồng độ vượt mức cho phép.
Qua khảo sát thực tế, trung tâm y tế đã đánh dấu 553 giếng khoan bị nhiễm Arsen nặng có nồng độ vượt trên 50ppb, đơn cử có trường hợp đến 800ppb.
“Mù” thông tin
Ông Bùi Văn Đực, ấp Thành Lập, xã Tân Công Chí, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, cho biết: Đa số người dân nơi đây đều sử dụng nước giếng để sinh hoạt. Giếng nước nhà ông được khoan cách đây 10 năm, gia đình có 5 người, mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào cái giếng này.
Ông Đực nói tỉnh queo: “Khoan giếng có nước thì cứ xài chứ còn chuyện nước nhiễm chất độc gì đó thì tôi hoàn toàn không nghe và cũng đâu có thấy mấy ông cán bộ khuyến cáo gì đâu”.
Từ năm 2005, Viện Vệ sinh y tế công cộng đã công bố An Giang là tỉnh nhiễm Arsen cao nhất nước. Arsen độc hại ở nồng độ cao và rất khó phát hiện bởi vì tính chất không màu không vị. Arsen hay còn gọi là thạch tín, độc gấp 4 lần thủy ngân. Nếu bị nhiễm độc từ từ, tùy theo mức độ bị nhiễm và thể tạng mỗi người có thể xuất hiện nhiều bệnh như: Ung thư, rụng tóc, buồn nôn, giảm cân…
Không riêng gì ông Đực hầu như người dân hoàn toàn mù tịt thông tin về độc tố Arsen. Đơn cử như trường hợp của gia đình anh Nguyễn Văn Hòa, ngụ xã Tân Công Chí, sau khi cán bộ trung tâm y tế dự phòng lấy mẫu nước giếng đem đi xét nghiệm kết quả nồng độ Arsen ở mức 100ppb thì cả gia đình mới phát hoảng, lo sợ sau gần 10 năm sử dụng nguồn nước này. Điều đáng nói là giếng nước ngầm ở gia đình nhà anh Hòa chỉ được khoan ở độ sâu rất cạn - 15m.
Theo ông Trần Anh Thư - Phó Giám đốc Sở TNMT tỉnh An Giang, các giếng khoan bị nhiễm Arsen đã có ở An Giang khoảng 7 năm qua. Đây là những khu vực cách xa kênh rạch, sông ngòi và không có nhà máy cung cấp nước nên người dân phải tự khoan giếng để lấy nước sinh hoạt, nấu nướng, phục vụ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Nhiều nông dân cứ nghĩ đơn giản nước giếng sau khi bơm lên chứa vào lu, bồn rồi lắng phèn hoặc nấu chín sẽ giảm hoặc loại bỏ được độc tố.
Ông Thư khẳng định: “Việc lắng phèn chỉ có thể làm cho nước trong hơn chứ không loại bỏ được Arsen. Người dân dễ bị ngộ nhận rằng nước giếng khoan trong là nước tốt, không có tạp chất hoặc Arsen nhưng kết quả kiểm tra mẫu nước thì hoàn toàn ngược lại”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở 2 địa phương là xã Bình Phú và thị trấn Sa Rài, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, hàng năm có số người chết do bị ung thư cao bất thường. (21/09/2011)
Ông Huỳnh Văn Thế - Phó Chủ tịch UBND xã Bình Phú, huyện Tân Hồng, cho biết: “Phần lớn người dân trong xã đều sử dụng nước giếng khoan từ lòng đất nhưng giếng khoan rất cạn”. Trưởng ấp Gò Da - ông Nguyễn Hưởng, cho hay từ năm 2006 đến nay trên địa bàn của ấp và ấp Công Tạo đã có gần 30 người chết vì mắc căn bệnh ung thư.
Chúng tôi đến nhà anh Nguyễn Thanh N (SN 1981) ở ấp Công Tạo, mới mất 3 tháng vì căn bệnh ung thư bao tử. Bà Nguyễn Thị Lệ - mẹ ruột của anh N, mếu máo nói: “Thằng N nó khỏe mạnh lắm. Từ lúc phát bệnh đến chết không thấy nó có biểu hiện gì bất thường. Kỳ lạ quá xung quanh đây mọi người đều chết vì mắc phải căn bệnh quái ác này, không biết có phải do sử dụng nước giếng không nữa”.
Kề cạnh bên là nhà của ông Đỗ Văn C -cũng bị ung thư chết cách đây khoảng 5 năm. Chị Đỗ Thị Bích Nga - con ông C, cho biết: “Từ ngày cha mất đến nay, hàng ngày gia đình vẫn sử dụng giếng nước khoan để sinh hoạt bình thường, nhà có mấy đứa nhỏ nên cũng hơi hơi sợ vì thế mua nước bình uống cho chắc ăn”.
Ông Nguyễn Văn Hồng - ở ấp Gò Da, lo lắng: “Do chưa có kết luận hay khuyến cáo của các ngành chức năng thì người dân nơi đây vẫn phải xài nước giếng để sinh hoạt, ngoài nước giếng ra thì không có nguồn nước nào thay thế”.
Ông Huỳnh Văn Thế cho biết: “Trước tình hình người dân chết vì căn bệnh ung thư trên địa bàn xã ngày một tăng nghi là do sử dụng nguồn nước, phía xã đang đề nghị Sở KHCN lấy mẫu nước để kiểm tra. Đồng thời, hiện xã cũng đang kiến nghị các cơ quan chuyên môn cần nhanh chóng nghiên cứu, đánh giá lại những trường hợp chết vì ung thư có phải do nguồn nước hay không để cho người dân yên tâm”.

30% số ca ung thư do ăn uống

Hội Ung thư Việt Nam vừa tổ chức tập huấn nâng cao kỹ năng cho các tình nguyện viên về bệnh ung thư tại Hà Nội.

Theo GS Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, có tới 80% trường hợp mắc ung thư là do sinh hoạt, ăn uống không khoa học. Chế độ ăn uống không hợp lý, không bảo đảm vệ sinh là nguyên nhân gây ra 30% số ca ung thư. Khoảng 30% số ca ung thư nếu được phát hiện sớm thì có thể chữa trị tốt.
Các nghiên cứu đã chứng minh khói thuốc lá chứa hơn 60 chất độc hại - mầm mống của 15 loại ung thư đối với cả người trực tiếp hút và người hít phải khói thuốc.

Theo Thái Hà - Tiền Phong

Phẫu thuật huỳnh quang loại bỏ tận gốc ung thư buồng trứng

Những phụ nữ bị ung thư buồng trứng có thể được hưởng lợi từ kĩ thuật phẫu thuật huỳnh quang.

Kỹ thuật này có thể phát hiện những khối u mà trước đây bác sĩ không thể phát hiện vì quá nhỏ hay những tế bào chỉ khoảng 1/10 mm, nghiên cứu khẳng định. 
Các nhà khoa học hi vọng phương pháp này sẽ cải thiện đáng kể tỉ lệ thành công trong các ca phẫu thuật ung thư phức tạp. 

Ở Anh, có khoảng 6.800 trường hợp mắc bệnh ung thư buồng trứng mỗi năm. Bệnh này rất khó để phát hiện và thường chỉ phát hiện ở giai đoạn cuối, lúc đó bệnh đã không thể chữa được nữa. Trung bình 2/3 bệnh nhân trong số đó sẽ tử vong. 


Với phương pháp truyền thống, bác sĩ nhận biết bằng mắt và bằng tay, thường bỏ qua những khối u nhỏ có chiều rộng ít hơn 3 mm. 

Tuy nhiên, với những người tham gia thử nghiệm kĩ thuật phẫu thuật huỳnh quang , bác sĩ đã phát hiện trung bình 34 khối u, so với 7 của phương pháp truyền thống. 

Nhà phát minh ra công nghệ này, giáo sư hóa sinh Philip Low, trường đại học Purdue, Indiana, Mỹ, cho biết: "Rất khó để nhận biết ung thư buồng trứng. Kĩ thuật này cho phép các bác sĩ phát hiện các khối u nhỏ hơn 30 lần so với phương pháp trước đây". 

Thành công của của phương pháp này đã được khẳng định qua 10 ca phẫu thuật thành công. Hai giờ trước khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ tiến hành tiêm axit folic vào bệnh nhân. Chất này có tác dụng như một "thiết bị dẫn đường", tìm ra và gắn chặt vào các tế bào ung thư buồng trứng. 

Sau đó, các bác sĩ sẽ sử dụng một camera đặc biệt quan sát các tế bào này. Qua màn hình, các tế bào ung thư sẽ phát ánh sáng huỳnh quang màu xanh lá cây. Nhờ đó, các bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ những khối u nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy. Những khối u nhỏ này, nếu không được loại bỏ, có thể khiến cho ung thư phát triển trở lại. 

Giáo sư Gooitzen van Dam, trường đại học Groning, Hà Lan - nơi diễn ra cuộc thử nghiệm, nhận định: "Tôi cho rằng công nghệ này sẽ cách mạng hóa ngành phẫu thuật. Tôi tin rằng nó sẽ trở thành một tiêu chuẩn mới trong phẫu thuật ung thư trong thời gian ngắn nhất". 

Giáo sư Peter Johnson, bác sĩ tại trung tâm Nghiên cứu Ung thư Anh, nhận xét: "Chúng tôi biết rằng một trong những điều quan trọng nhất cho những người ung thư buồng trứng là loại bỏ được các tế bào ung thư nhiều nhất có thể. Càng loại bỏ được nhiều thì ca phẫu thuật càng thành công và cơ hội sống sót cho bệnh nhân càng cao. Phương pháp này hứa hẹn sẽ cải thiện kết quả của những ca phẫu thuật trong tương lai". 

Công nghệ này dựa trên phát hiện của giáo sư Low: các tế bào ung thư rất "đói" axit folic, một dạng của vitamin B. Tất cả ung thư tử cung, phổi, vú, thận, ruột két đều hấp thụ axit này, nhưng ung thư buồng trứng hấp thụ nhiều nhất. "Đó là lý do tại sao chúng tôi bắt đầu bằng ung thư buồng trứng. Nó là nơi tốt nhất để bắt đầu tạo nên sự khác biệt đối với sự sống con người", giáo sư Low nói. 

Kể từ những năm 70, tỉ lệ phụ nữ trên 65 tuổi mắc ung thư buồng trứng đã tăng gấp rưỡi. Ung thư buồng trứng là căn bệnh phổ biến thứ 5 ở phụ nữ. 

Giáo sư Low hi vọng, sau các cuộc thử nghiệm, phương pháp này sẽ được sử dụng trong mọi ca phẫu thuật ung thư buồng trứng. 
  

Theo Thanh Xuân - Khoa học & Đời sống/DailyMail

Thức đêm và căn bệnh ung thư

2 hiện tượng này dường như chẳng có bất kỳ sự liên hệ nào nhưng sự thực lại chung nhau ở điểm: phá vỡ nhịp sinh học.

Và đa phần chúng ta thường không đánh giá hết tầm quan trọng của giấc ngủ đêm.
Thức đêm và căn bệnh ung thư
Bạn có thể làm việc rất tốt về đêm nhưng lâu dài lại ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe
Số là chúng ta tồn tại theo những nhịp nhất định: nhịp ngày đêm, nhịp năm và nhịp hormone. Làm ngày ngủ đêm là một điều hoàn toàn tự nhiên. Đây là quãng thời gian hoàn toàn cần thiết để cơ thể phục hồi sức lực đã bị hao tổn trong suốt một ngày và để sáng hôm sau ở trạng thái “sẵn sàng chiến đấu”.
Giấc ngủ đêm không chỉ mang lại sự “nghỉ ngơi” cho phần lớn các hệ của cơ thể ( huyết áp giảm, nhu động ruột chậm lại, phần lớn các loại hormone ngừng tăng tiết) mà còn làm công việc “phục hồi” cho các tế bào gan, hệ thần kinh, hệ miễn dịch, dạ dày-hành tá tràng.
Vậy nên chẳng lấy gì làm lạ là những ai ít ngủ đêm thường mắc một số bệnh mạn tính. Họ hay bị cảm, bị viêm nhiễm đường hô hấp cấp, nhiều khi tính khí thất thường (hay cáu bẳn, luôn căng thẳng và bị trầm cảm).
Ung thư cũng là hậu quả của thức đêm
Theo số liệu thống kê của bác sĩ ở nhiều nước khác nhau, những người làm ca đêm bị mắc bệnh ung thư nhiều nhất.
Nguyên nhân là hormone ban đêm- malatonin. Trong cơ thể người, nó chiếm vị thế rất cao, có thể phong nó là tổng tư lệnh của các loại hormone. Nó mạnh dạn điều khiển chúng, tăng tiết loại hormone này, kìm hãm sự sản sinh loại hormone khác.
Khác với phần lớn các loại hormone còn lại, melatonin bắt đầu tiết ra lúc chập choạng tối và lên đến đỉnh cao vào lúc 2-3h sáng. nếu con người tỉnh táo về đêm thì melatonin không tiết ra đủ lượng giúp cho cơ thể con người hoạt động bình thường. Sự mất cân bằng về hormone sẽ tác động đến tất cả các cơ quan và các hệ thống trong cơ thể và thật là nguy hại khi một số cơ quan không được phục hồi. Đấy là chưa kể đến sự tổn thương ở cấp tế bào.
Mỗi tế bào trong cơ thể người có tuổi thọ riêng. Khi hết tuổi đó, tế bào tự huỷ; một tế bào mới thay thế - Đây là một quá trình phục hồi hoàn toàn tự nhiên. Trật tự thông thường bị phá vỡ. Các tế bào bị mất phương hướng không biết lúc nào thì phân chia, lúc nào thì triệt tiêu. Một số tế bào bị mất lập trình, thay cho sự biến mất chúng lại tăng trưởng và đến một lúc nào đó số lượng chuyển thành chất lượng- cơ cấu và chức năng của tế bào bị thay đổi hoàn toàn. Tế bào trở thành ác tính.
Những loại bệnh ung thư nào thường liên quan đến thức đêm?
Với phụ nữ là ung thư tuyến vú, buồng trứng và cổ tử cung; còn nam giới là ung thư tuyến tiền liệt.
Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân làm cho bệnh ung thư gia tăng trên thế giới là do lối sống thiên về đêm. Nếu từ vũ trụ nhìn xuống Trái đất, ta thấy một bức tranh ánh sáng rực rỡ. Cuộc sống sôi động về đêm ở những thành phố lớn đồng nghĩa với phần lớn cư dân trái đất không ngủ. Chính vì thế mà sinh ra nhiều bệnh tật. vì vậy, nếu ta không thay đổi ngay lối sống thì còn nguy kịch hơn.
Thế còn những người làm ca đêm?
Đáng tiếc họ không phải là ngoại lệ. Những người làm ca đêm gặp nhiều rắc rối hơn những người làm những nghề ban ngày và không chỉ là bệnh ung thư.
Do rối loạn nhịp sinh học, nữ giới sẽ dễ mắc các bệnh như phụ khoa, vô sinh, sẩy thai. Thí nghiệm ở chuột cho thấy: tình trạng “thiếu bóng tối” gây những dấu hiệu mãn kinh sớm, lão hoá sớm.
Để hạn chế, khi ngủ ngày cần nằm trong phòng tối. Đồng thời, trong chế độ dinh dưỡng phải tăng cường những loại thực phẩm chứa triptofan, chất giúp tạo melatonin. Đó là thịt gà Tây, thịt gà mái, chuối, phomat, hạt bí, hạnh nhân…
Cần thận trọng khi dùng thuốc làm tăng melatonin - hiệu quả xuất hiện khi dùng liều tối thiểu là 0,2-0,3mg. Những loại thuốc này không được xếp vào hàng thuốc ngủ, không gây buồn ngủ và nghiện thuốc nhưng vẫn gây uể oải vào ngày hôm sau. Không nên uống khi công việc đòi hỏi sự tập trung.

Theo BS Nguyễn Phương (BV Y học cổ truyền)
Dân trí/Zhenskoe zdorovie

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons