![]() |
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014
Ăn nhiều hành, tỏi phòng tránh ung thư
Viện Nghiên cứu dược lý Mario Negri (Italy) khẳng định: tỷ lệ mắc ung
thư thực quản, tử cung và vòm họng ở những người cao tuổi có thói quen
ăn hành thường xuyên thấp hơn nhiều so với mức trung bình của toàn xã
hội. Các nghiên cứu trước đây cũng đã đưa ra kết luận tương tự, nhưng
nhiều người vẫn tỏ ra hoài nghi vì cho rằng đối tượng tham gia nghiên
cứu là người Trung Quốc nên không thể chắc chắn rằng hành, tỏi có thể
giúp ngăn ngừa ung thư ở người phương Tây.
Nhưng với phát hiện này, có thể khẳng định: người phương Tây cũng phòng
tránh được ung thư nhờ ăn nhiều hành, tỏi. TS.Carlotta Galeone, Trưởng
nhóm nghiên cứu, cho biết: Tuy chưa thể khẳng định rằng hành, tỏi trực
tiếp ngăn chặn ung thư, nhưng ông cho rằng, có thể những người thích
hành, tỏi theo đuổi chế độ ăn nhiều rau quả và chính điều đó giúp họ
giảm được nguy cơ mắc ung thư.
Tương tự, những người ăn tỏi ít nhất 7 lần trong tuần có nguy cơ mắc
ung thư thấp hơn những người không bao giờ dùng tỏi trong khẩu phần
khoảng 25%. Những người thích tỏi và hành cũng ít nguy cơ mắc ung thư
vòm họng, miệng, thận nhất. Galeone khuyên: Nếu bạn thêm hành, tỏi vào
khẩu phần ăn hằng ngày, hoặc trộn chúng với nhiều loại rau khác thì thật
là một điều lý tưởng để tránh bệnh ung thư. Nói chung, các chuyên gia
đều khuyên mọi người ăn nhiều loại rau quả khác nhau trong khẩu phần ăn
hằng ngày để có một cơ thể khỏe mạnh.
BS. Ninh Hồng
Con người đã chiến đấu với bệnh ung thư như thế nào?
Ngày nay, ung thư là một căn bệnh nguy hiểm rất
phổ biến, có thể coi là một tai hoạ đối với nhân loại, chiếm gần 15%
tổng số người chết mỗi năm. Tuổi thọ tăng cao và lối sống thiếu lành
mạnh là những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ mắc bệnh gia tăng. Sự gia
tăng đó khiến cho người ta nghĩ rằng ung thư là bệnh của thời hiện đại.
Nhưng thực ra, ung thư được biết đến như một căn bệnh tồn tại cùng lịch
sử con người.
Người thiên cổ chưa biết đến ung thư
Đó là một khẳng định đã được giới khoa học thừa nhận. Khi tìm kiếm dấu vết của căn bệnh ung thư trên hơn 300 bộ hài cốt thuộc thời thiên cổ, có tuổi thọ trên 5000 năm, TS. Mario Slaus đến từ Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Croatia nhận thấy, ung thư không phải là cái gì đó mà tổ tiên loài người phải đối mặt. "Không có dấu hiệu của u xương ác tính trong toàn bộ số hài cốt sưu tập" - Slaus cho biết - "Nguyên nhân có thể do tuổi thọ trung bình của người thiên cổ chỉ đạt 35,6 năm, trong khi ung thư thường xuất hiện ở tuổi 65". Theo quan điểm của Slaus, người thiên cổ có tuổi thọ tự nhiên ngắn ngủi hoặc chết sớm vì những căn bệnh thông thường, do đó ung thư không có cơ hội phát triển.
Trong bộ sưu tập của Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Croatia có cả những hài cốt từ năm 5300 trước Công nguyên, được thu thập từ các khu khai quật trên khắp lãnh thổ. Phần lớn số cá thể trong bộ sưu tập hài cốt này có dấu hiệu tử vong vì các bệnh giang mai, hủi và lao phổi. Đây cũng là những "tay sai đắc lực của tử thần" trong xã hội loài người buổi sơ khai, Slaus phát biểu. Sự xuất hiện những căn bệnh mới ở các thời kỳ sau đó như ung thư có thể xem là một phần trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người.
Xuất hiện ở thời cổ đại (năm 3000 đến 1500 trước Công nguyên)
Trong các thư tịch thời cổ đại, người ta tìm thấy những dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ căn bệnh ung thư đã xuất hiện. Những trường hợp bị bệnh được mô tả đầu tiên trong một bản giấy papyrus có niên đại vào khoảng năm 3000-1500 trước Công nguyên. Đó là 8 trường hợp bị khối u trên vú được chữa trị bằng phương pháp đốt, một phương pháp phá hủy mô bằng dụng cụ nung nóng: "khoan lửa". Trong tài liệu này, người ta nói rằng không thể nào chữa trị hẳn ung thư mà chỉ có thể làm giảm nhẹ bệnh.
Sau đó, căn bệnh này có vẻ như xuất hiện ngày càng nhiều. Nhiều bức tranh trên các ngôi mộ Aicập miêu tả con người với những khối u trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Ông tổ của nền y học thế giới Hippocrates đã dùng từ tiếng Hy Lạp là "carcinos" và "carcinoma" để mô tả những khối u. Kết hợp lại, ung thư được gọi là "karkinos" ("karkinos" trong tiếng Hy Lạp vốn để chỉ con cua).
Ở giai đoạn này, người Hy Lạp cổ đại đã phân biệt được u ác tính và u lành tính. Các thầy thuốc cũng dùng phẫu thuật cắt bỏ khối u trên bề mặt theo cách thức tương tự như ngày nay. Họ còn lấy hỗn hợp giữa lúa mạch, tai lợn và các thứ khác làm thuốc chữa bệnh ung thư dạ dày và tử cung, ngoài ra, còn có các loại thuốc mỡ, thuốc nước, dầu thầu dầu, thuốc đạn, thuốc đắp và các bộ phận động vật... Tuy nhiên, ở thời kỳ này, người ta vẫn tin rằng bệnh ung thư là do các thần thánh gây ra.
Cứ ung nhọt là cắt bỏ
Trong suốt thời kỳ này, các thầy thuốc đã có được nhiều kiến thức về giải phẫu và bệnh lý cơ thể người. Thuyết bạch huyết ra đời vào thế kỷ 17 của Gaspare Aselli đã thay thế lý thuyết mật đen của Hippocrates, mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư. Người ta cho rằng, chính sự bất thường trong hệ bạch huyết đã gây ra căn bệnh này.
Các lý thuyết khác cũng xuất hiện để giải thích nguyên nhân của bệnh, chẳng hạn như ung thư là do chấn thương, thực vật ký sinh và người ta cũng nghĩ rằng ung thư có thể lan ra "giống như dung dịch lỏng".
John Hunter (1728-1793), một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng người Scotland cho rằng, một số dạng ung thư có thể được chữa trị bằng phẫu thuật. Theo ông, nếu khối u chưa lan đến các mô gần nó và vẫn có thể cắt bỏ thì "chẳng có lý do gì mà lại không cắt bỏ nó đi". Vậy là trong hàng thế kỷ sau đó, liệu pháp phổ biến thường được áp dụng để chữa trị ung thư là phẫu thuật (cắt bỏ). Tuy nhiên, tỷ lệ thành công rất thấp bởi còn những phần rất nhỏ của mô hoặc những mô khác khuất phía sau vẫn tiếp tục phát triển cho tới khi giết chết bệnh nhân.
Chế ngự bệnh ung thư bằng cách nào?
Nỗ lực tìm ra loại thuốc trị ung thư xuất hiện từ giữa những năm 1800 sau khi người ta biết rằng các mô được sinh ra bởi sự sinh sôi cực nhanh của các tế bào ung thư. Các thầy thuốc đã sử dụng một loạt các chất độc, như thạch tín để tìm cách triệt tiêu tế bào ung thư. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn tiếp tục bị thần chết khuất phục.
Phát hiện ra phương pháp gây mê năm 1844 của Wells đã cho phép ngành phẫu thuật phát triển và các ca phẫu thuật ung thư cổ điển như phẫu thuật triệt để ung thư vú ra đời. Phát minh kính hiển vi của Leeuwenhoek vào cuối thế kỷ 17 cũng tạo động lực cho quá trình tìm hiểu nguyên nhân ung thư.
Rudolf Virchow, người được xem là cha đẻ của bệnh lý học tế bào đã đưa ra những kiến thức khoa học hiện đại cơ bản về ung thư và liên hệ các triệu chứng của bệnh với các phát hiện vi mô. Mô bị cắt bỏ nhờ phẫu thuật được quan sát dưới kính hiển vi đã giúp tăng cường thêm khả năng chẩn đoán chính xác về ung thư, qua đó người ta có thể cho các nhà phẫu thuật biết liệu quy trình phẫu thuật đã cắt bỏ hoàn toàn khối u hay chưa.
Vào năm 1940, một số lớn thuỷ thủ Mỹ bị thương bởi ga mù tạc trong một vụ nổ ở căn cứ hải quân. Các bác sĩ nhận thấy điểm đặc biệt là các thuỷ thủ mất hầu hết bạch cầu và tế bào tuỷ sống - nơi sản sinh ra bạch cầu. Đây có thể là manh mối điều trị bệnh ung thư máu (máu trắng). Năm 1943, người ta bắt đầu điều trị bệnh nhân ung thư máu bằng mechlorethamine, một loại thuốc có họ gần với mù tạc. Những thành công cho phép điều trị hơn một nửa bệnh nhân ung thư máu - những người trước đây chỉ biết chờ chết.
Hơn 20 năm sau, khoa học điều chế ra hàng loạt liệu pháp chống ung thư có nguyên tắc hoạt động tương tự. Cho tới tận bây giờ, thuốc chống ung thư vẫn chủ yếu là độc dược để diệt khối u. Vì vậy, việc quyết định liều lượng thuốc cho bệnh nhân là tối quan trọng và việc xuất hiện những phản ứng phụ ghê gớm là điều đương nhiên.
Mặc dù hiện nay y học hiện đại đã phát triển rất cao với nhiều máy móc tiên tiến được dùng vào việc chữa trị ung thư, thế nhưng căn bệnh này vẫn là một trong những bệnh nan y đáng sợ của nhân loại. Kỹ thuật phân tích gen tiên tiến mới đây đã khám phá ra gen D - gen đột biến gây bệnh ung thư. Với nhận thức về nguyên nhân cơ bản của căn bệnh quái ác này, thế giới đang chờ đón những liệu pháp vô hại ngăn chặn từ gốc hơn là tìm ra những loại thuốc ít độc tố hơn.
Người thiên cổ chưa biết đến ung thư
Đó là một khẳng định đã được giới khoa học thừa nhận. Khi tìm kiếm dấu vết của căn bệnh ung thư trên hơn 300 bộ hài cốt thuộc thời thiên cổ, có tuổi thọ trên 5000 năm, TS. Mario Slaus đến từ Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Croatia nhận thấy, ung thư không phải là cái gì đó mà tổ tiên loài người phải đối mặt. "Không có dấu hiệu của u xương ác tính trong toàn bộ số hài cốt sưu tập" - Slaus cho biết - "Nguyên nhân có thể do tuổi thọ trung bình của người thiên cổ chỉ đạt 35,6 năm, trong khi ung thư thường xuất hiện ở tuổi 65". Theo quan điểm của Slaus, người thiên cổ có tuổi thọ tự nhiên ngắn ngủi hoặc chết sớm vì những căn bệnh thông thường, do đó ung thư không có cơ hội phát triển.
Trong bộ sưu tập của Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật Croatia có cả những hài cốt từ năm 5300 trước Công nguyên, được thu thập từ các khu khai quật trên khắp lãnh thổ. Phần lớn số cá thể trong bộ sưu tập hài cốt này có dấu hiệu tử vong vì các bệnh giang mai, hủi và lao phổi. Đây cũng là những "tay sai đắc lực của tử thần" trong xã hội loài người buổi sơ khai, Slaus phát biểu. Sự xuất hiện những căn bệnh mới ở các thời kỳ sau đó như ung thư có thể xem là một phần trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người.
|
Xạ trị điều trị ung thư.
|
Trong các thư tịch thời cổ đại, người ta tìm thấy những dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ căn bệnh ung thư đã xuất hiện. Những trường hợp bị bệnh được mô tả đầu tiên trong một bản giấy papyrus có niên đại vào khoảng năm 3000-1500 trước Công nguyên. Đó là 8 trường hợp bị khối u trên vú được chữa trị bằng phương pháp đốt, một phương pháp phá hủy mô bằng dụng cụ nung nóng: "khoan lửa". Trong tài liệu này, người ta nói rằng không thể nào chữa trị hẳn ung thư mà chỉ có thể làm giảm nhẹ bệnh.
Sau đó, căn bệnh này có vẻ như xuất hiện ngày càng nhiều. Nhiều bức tranh trên các ngôi mộ Aicập miêu tả con người với những khối u trên các bộ phận khác nhau của cơ thể. Ông tổ của nền y học thế giới Hippocrates đã dùng từ tiếng Hy Lạp là "carcinos" và "carcinoma" để mô tả những khối u. Kết hợp lại, ung thư được gọi là "karkinos" ("karkinos" trong tiếng Hy Lạp vốn để chỉ con cua).
Ở giai đoạn này, người Hy Lạp cổ đại đã phân biệt được u ác tính và u lành tính. Các thầy thuốc cũng dùng phẫu thuật cắt bỏ khối u trên bề mặt theo cách thức tương tự như ngày nay. Họ còn lấy hỗn hợp giữa lúa mạch, tai lợn và các thứ khác làm thuốc chữa bệnh ung thư dạ dày và tử cung, ngoài ra, còn có các loại thuốc mỡ, thuốc nước, dầu thầu dầu, thuốc đạn, thuốc đắp và các bộ phận động vật... Tuy nhiên, ở thời kỳ này, người ta vẫn tin rằng bệnh ung thư là do các thần thánh gây ra.
Cứ ung nhọt là cắt bỏ
Trong suốt thời kỳ này, các thầy thuốc đã có được nhiều kiến thức về giải phẫu và bệnh lý cơ thể người. Thuyết bạch huyết ra đời vào thế kỷ 17 của Gaspare Aselli đã thay thế lý thuyết mật đen của Hippocrates, mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư. Người ta cho rằng, chính sự bất thường trong hệ bạch huyết đã gây ra căn bệnh này.
Các lý thuyết khác cũng xuất hiện để giải thích nguyên nhân của bệnh, chẳng hạn như ung thư là do chấn thương, thực vật ký sinh và người ta cũng nghĩ rằng ung thư có thể lan ra "giống như dung dịch lỏng".
John Hunter (1728-1793), một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng người Scotland cho rằng, một số dạng ung thư có thể được chữa trị bằng phẫu thuật. Theo ông, nếu khối u chưa lan đến các mô gần nó và vẫn có thể cắt bỏ thì "chẳng có lý do gì mà lại không cắt bỏ nó đi". Vậy là trong hàng thế kỷ sau đó, liệu pháp phổ biến thường được áp dụng để chữa trị ung thư là phẫu thuật (cắt bỏ). Tuy nhiên, tỷ lệ thành công rất thấp bởi còn những phần rất nhỏ của mô hoặc những mô khác khuất phía sau vẫn tiếp tục phát triển cho tới khi giết chết bệnh nhân.
Chế ngự bệnh ung thư bằng cách nào?
Nỗ lực tìm ra loại thuốc trị ung thư xuất hiện từ giữa những năm 1800 sau khi người ta biết rằng các mô được sinh ra bởi sự sinh sôi cực nhanh của các tế bào ung thư. Các thầy thuốc đã sử dụng một loạt các chất độc, như thạch tín để tìm cách triệt tiêu tế bào ung thư. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn tiếp tục bị thần chết khuất phục.
Phát hiện ra phương pháp gây mê năm 1844 của Wells đã cho phép ngành phẫu thuật phát triển và các ca phẫu thuật ung thư cổ điển như phẫu thuật triệt để ung thư vú ra đời. Phát minh kính hiển vi của Leeuwenhoek vào cuối thế kỷ 17 cũng tạo động lực cho quá trình tìm hiểu nguyên nhân ung thư.
Rudolf Virchow, người được xem là cha đẻ của bệnh lý học tế bào đã đưa ra những kiến thức khoa học hiện đại cơ bản về ung thư và liên hệ các triệu chứng của bệnh với các phát hiện vi mô. Mô bị cắt bỏ nhờ phẫu thuật được quan sát dưới kính hiển vi đã giúp tăng cường thêm khả năng chẩn đoán chính xác về ung thư, qua đó người ta có thể cho các nhà phẫu thuật biết liệu quy trình phẫu thuật đã cắt bỏ hoàn toàn khối u hay chưa.
Vào năm 1940, một số lớn thuỷ thủ Mỹ bị thương bởi ga mù tạc trong một vụ nổ ở căn cứ hải quân. Các bác sĩ nhận thấy điểm đặc biệt là các thuỷ thủ mất hầu hết bạch cầu và tế bào tuỷ sống - nơi sản sinh ra bạch cầu. Đây có thể là manh mối điều trị bệnh ung thư máu (máu trắng). Năm 1943, người ta bắt đầu điều trị bệnh nhân ung thư máu bằng mechlorethamine, một loại thuốc có họ gần với mù tạc. Những thành công cho phép điều trị hơn một nửa bệnh nhân ung thư máu - những người trước đây chỉ biết chờ chết.
Hơn 20 năm sau, khoa học điều chế ra hàng loạt liệu pháp chống ung thư có nguyên tắc hoạt động tương tự. Cho tới tận bây giờ, thuốc chống ung thư vẫn chủ yếu là độc dược để diệt khối u. Vì vậy, việc quyết định liều lượng thuốc cho bệnh nhân là tối quan trọng và việc xuất hiện những phản ứng phụ ghê gớm là điều đương nhiên.
Mặc dù hiện nay y học hiện đại đã phát triển rất cao với nhiều máy móc tiên tiến được dùng vào việc chữa trị ung thư, thế nhưng căn bệnh này vẫn là một trong những bệnh nan y đáng sợ của nhân loại. Kỹ thuật phân tích gen tiên tiến mới đây đã khám phá ra gen D - gen đột biến gây bệnh ung thư. Với nhận thức về nguyên nhân cơ bản của căn bệnh quái ác này, thế giới đang chờ đón những liệu pháp vô hại ngăn chặn từ gốc hơn là tìm ra những loại thuốc ít độc tố hơn.
Thục Yên (Theo Medicine News)
Phát hiện mới về ung thư
Các nhà khoa học ở đại học Johns Hopkin (Mỹ) sau nhiều năm nghiên cứu đã có những công bố mới rất đáng để chúng ta lưu ý.
Ai cũng có tế bào ung thư (UT)
Trong quá trình sống, chúng ta tiếp xúc với nhiều yếu tố bất lợi cho cơ thể: khói bụi, ánh nắng mặt trời, hóa chất (chất tẩy rửa, làm thơm, làm mềm vải, làm đẹp, hóa chất diệt côn trùng), hóa dược (các loại thuốc), các chất độc trong thực phẩm hoặc sinh ra do quá trình tiêu hóa thức ăn, gia đình có người bị UT… Từ những nguyên nhân “phong phú” này, cộng với những stress của cuộc sống sẽ làm biến dị tế bào lành thành tế bào UT. Tùy theo mỗi cá thể, tế bào UT sẽ xuất hiện từ 6 - 10 lần trong cuộc đời mỗi con người.
Khi hệ thống
miễn dịch trong cơ thể mạnh, chúng sẽ đủ khả năng tiêu diệt tế bào UT,
đồng thời ngăn không cho “kẻ phá bĩnh” sinh sản, phát triển thành khối
u. Nếu hệ thống miễn dịch yếu, “kẻ phá bĩnh” sẽ sinh sản theo cấp số
nhân thành hàng tỷ tế bào và thế là chúng ta bị UT.
Khi một người bị mắc bệnh UT nghĩa là người đó có thể bị suy dinh
dưỡng vi chất. Có thể bạn béo phì nhưng không ăn đủ hoặc không hấp thu
được những yếu tố tăng cường, bảo vệ hệ miễn dịch. Điều này liên quan
mật thiết đến thói quen ăn uống và lối sống. Vì thế, các nhà dinh dưỡng
đã cảnh báo “trong khoảng một thập niên tới, béo phì sẽ qua mặt thuốc lá
trở thành nhân tố gây UT số 1”. Các nước phát triển đang truyền thông,
khuyến cáo chế độ ăn uống truyền thống thì ở ta, vệ sinh thực phẩm là
vấn đề SOS, hàng quán vẫn đông thực khách và béo phì cứ tăng thêm hàng
năm. Nếu không kịp thời nhận ra, đây sẽ là yếu tố thuận lợi để tế bào UT
xuất hiện nhân lên thành một khối mà chúng ta gọi là u, bướu.
Hóa trị và xạ trị
Hóa trị là truyền hóa chất vào cơ thể nhằm hủy tế bào UT, đồng thời cũng tiêu diệt một số tế bào khỏe mạnh trong tủy xương, trong dạ dày - ruột và có thể gây tổn thương các cơ quan như: gan, thận, tim, phổi.
Xạ trị là dùng kim chứa chất phóng xạ tiêu diệt tế bào UT có thể gây tổn thương các tế bào khỏe mạnh, các mô tế bào và ảnh hưởng đến các cơ quan trong cơ thể.
Khi cơ thể bị nhiễm độc bởi hóa trị và xạ trị, hệ thống miễn dịch cũng bị suy yếu, do vậy cơ thể dễ bị nhiễm trùng, nhiễm độc. Đó là chưa kể tâm lý bất an, người thân bỏ rơi khiến bệnh nhân UT luôn “sống trong sợ hãi”, càng làm hệ miễn dịch suy yếu thêm.
Chế độ dinh dưỡng - nhân tố phòng và chống UT
Đây là vấn đề không mới nhưng được nhấn mạnh trong nghiên cứu của các nhà khoa học. Họ phát hiện ra tế bào UT thích “ăn” gì?.
- Người thích vị ngọt thì tế bào UT cũng hảo ngọt. Nếu bạn cắt khẩu phần đường tức là cắt nguồn dưỡng chất quan trọng khiến chúng bị đói và suy dinh dưỡng. Khi thèm ngọt, bạn có thể dùng chút ít mật ong nguyên chất hoặc mật mía.
- Muối tinh thường có chất tẩy trắng nên tốt nhất là dùng muối biển.
- Điều bất ngờ nữa là họ thấy sữa bò kích thích dạ dày - ruột tiết ra niêm dịch. Đây là “món ngon” của tế bào UT. Vì vậy, bạn nên thay sữa bò bằng sữa đậu nành tự nấu là tốt nhất. Tuy nhiên, cũng xin nhấn mạnh rằng sữa đậu nành cũng là chất năng lượng cao, nếu bạn đã “lỡ béo” cũng không nên nạp vào cơ thể như một kiểu thay nước uống.
- Tế bào UT sống sót trong môi trường acid. Khẩu phần nhiều thịt sẽ làm cho máu có độ pH hơi acid. Protein thịt khó tiêu hóa lại cần nhiều enzyme. Chúng ta không có thói quen ăn chậm nhai kỹ càng làm thịt khó tiêu. Ăn vội, các enzyme không tiết ra đủ sẽ biến thịt thành sản phẩm tiêu hóa dở dang. Sản phẩm dở dang này sẽ lên men ở ruột già, gây thối và hình thành chất độc. Những người ăn nhiều thịt dễ bị UT đại tràng là vậy. Sẽ tốt hơn nếu bạn ăn nhiều cá, đậu hũ thay cho thịt heo và thịt bò, gà.
- Khẩu phần 80% nên là ngũ cốc nguyên hạt (gạo lứt), rau xanh, nước ép rau và trái cây sẽ giúp cơ thể sản sinh ra nhiều kiềm. Nước ép rau chứa nhiều enzyme sống, dễ dàng ngấm vào tế bào trong vòng 15 phút, giúp cho các tế bào khỏe mạnh. Tốt nhất là 2 ly nước ép rau và trái cây tươi mỗi ngày.
- Uống trà xanh là lựa chọn tốt. Nếu không thì uống nước sạch (không chứa kim loại nặng như nước giếng). Tránh uống nước cất vì nó có tính acid. Những thực phẩm chống oxy hóa tế bào, cung cấp vitamin E,A,C giúp tăng cường khả năng chống đỡ của cơ thể.
Cuộc sống tinh thần
UT là căn bệnh của thể xác và tinh thần. Giận dữ, căng thẳng, căm thù, cay đắng sẽ khiến cơ thể mất cân bằng, tạo ra trạng thái acid. Hãy thư giãn, vị tha và yêu thương để hệ miễn dịch hoạt động như những đội quân tinh nhuệ dọn dẹp tế bào UT từ khi chúng vừa xuất hiện như “kẻ lạ mặt”.
Tập luyện
Các tế bào UT sẽ không tồn tại được trong môi trường đầy đủ oxy. Tập thể dục đều đặn, khí công, dưỡng sinh cũng góp phần làm cho tế bào UT không có cơ may phát triển.
Nhiều người cho rằng, UT như căn bệnh “trời kêu ai nấy dạ” thì những phát hiện trên lại cho bạn một cái nhìn đúng đắn hơn. Nếu chúng ta có hiểu biết về dinh dưỡng, biết lựa chọn thực phẩm, luyện tập thường xuyên, vừa làm việc vừa thư giãn hợp lý lại tạo ra bầu không khí gia đình vui vẻ thì đó chính là cách chống UT hữu hiệu nhất.
Ai cũng có tế bào ung thư (UT)
Trong quá trình sống, chúng ta tiếp xúc với nhiều yếu tố bất lợi cho cơ thể: khói bụi, ánh nắng mặt trời, hóa chất (chất tẩy rửa, làm thơm, làm mềm vải, làm đẹp, hóa chất diệt côn trùng), hóa dược (các loại thuốc), các chất độc trong thực phẩm hoặc sinh ra do quá trình tiêu hóa thức ăn, gia đình có người bị UT… Từ những nguyên nhân “phong phú” này, cộng với những stress của cuộc sống sẽ làm biến dị tế bào lành thành tế bào UT. Tùy theo mỗi cá thể, tế bào UT sẽ xuất hiện từ 6 - 10 lần trong cuộc đời mỗi con người.
![]()
Xạ trị cho bệnh nhân.
|
Hóa trị và xạ trị
Hóa trị là truyền hóa chất vào cơ thể nhằm hủy tế bào UT, đồng thời cũng tiêu diệt một số tế bào khỏe mạnh trong tủy xương, trong dạ dày - ruột và có thể gây tổn thương các cơ quan như: gan, thận, tim, phổi.
Xạ trị là dùng kim chứa chất phóng xạ tiêu diệt tế bào UT có thể gây tổn thương các tế bào khỏe mạnh, các mô tế bào và ảnh hưởng đến các cơ quan trong cơ thể.
Khi cơ thể bị nhiễm độc bởi hóa trị và xạ trị, hệ thống miễn dịch cũng bị suy yếu, do vậy cơ thể dễ bị nhiễm trùng, nhiễm độc. Đó là chưa kể tâm lý bất an, người thân bỏ rơi khiến bệnh nhân UT luôn “sống trong sợ hãi”, càng làm hệ miễn dịch suy yếu thêm.
![]()
Tế bào ung thư vú
|
Đây là vấn đề không mới nhưng được nhấn mạnh trong nghiên cứu của các nhà khoa học. Họ phát hiện ra tế bào UT thích “ăn” gì?.
- Người thích vị ngọt thì tế bào UT cũng hảo ngọt. Nếu bạn cắt khẩu phần đường tức là cắt nguồn dưỡng chất quan trọng khiến chúng bị đói và suy dinh dưỡng. Khi thèm ngọt, bạn có thể dùng chút ít mật ong nguyên chất hoặc mật mía.
- Muối tinh thường có chất tẩy trắng nên tốt nhất là dùng muối biển.
- Điều bất ngờ nữa là họ thấy sữa bò kích thích dạ dày - ruột tiết ra niêm dịch. Đây là “món ngon” của tế bào UT. Vì vậy, bạn nên thay sữa bò bằng sữa đậu nành tự nấu là tốt nhất. Tuy nhiên, cũng xin nhấn mạnh rằng sữa đậu nành cũng là chất năng lượng cao, nếu bạn đã “lỡ béo” cũng không nên nạp vào cơ thể như một kiểu thay nước uống.
- Tế bào UT sống sót trong môi trường acid. Khẩu phần nhiều thịt sẽ làm cho máu có độ pH hơi acid. Protein thịt khó tiêu hóa lại cần nhiều enzyme. Chúng ta không có thói quen ăn chậm nhai kỹ càng làm thịt khó tiêu. Ăn vội, các enzyme không tiết ra đủ sẽ biến thịt thành sản phẩm tiêu hóa dở dang. Sản phẩm dở dang này sẽ lên men ở ruột già, gây thối và hình thành chất độc. Những người ăn nhiều thịt dễ bị UT đại tràng là vậy. Sẽ tốt hơn nếu bạn ăn nhiều cá, đậu hũ thay cho thịt heo và thịt bò, gà.
- Khẩu phần 80% nên là ngũ cốc nguyên hạt (gạo lứt), rau xanh, nước ép rau và trái cây sẽ giúp cơ thể sản sinh ra nhiều kiềm. Nước ép rau chứa nhiều enzyme sống, dễ dàng ngấm vào tế bào trong vòng 15 phút, giúp cho các tế bào khỏe mạnh. Tốt nhất là 2 ly nước ép rau và trái cây tươi mỗi ngày.
- Uống trà xanh là lựa chọn tốt. Nếu không thì uống nước sạch (không chứa kim loại nặng như nước giếng). Tránh uống nước cất vì nó có tính acid. Những thực phẩm chống oxy hóa tế bào, cung cấp vitamin E,A,C giúp tăng cường khả năng chống đỡ của cơ thể.
Cuộc sống tinh thần
UT là căn bệnh của thể xác và tinh thần. Giận dữ, căng thẳng, căm thù, cay đắng sẽ khiến cơ thể mất cân bằng, tạo ra trạng thái acid. Hãy thư giãn, vị tha và yêu thương để hệ miễn dịch hoạt động như những đội quân tinh nhuệ dọn dẹp tế bào UT từ khi chúng vừa xuất hiện như “kẻ lạ mặt”.
Tập luyện
Các tế bào UT sẽ không tồn tại được trong môi trường đầy đủ oxy. Tập thể dục đều đặn, khí công, dưỡng sinh cũng góp phần làm cho tế bào UT không có cơ may phát triển.
Nhiều người cho rằng, UT như căn bệnh “trời kêu ai nấy dạ” thì những phát hiện trên lại cho bạn một cái nhìn đúng đắn hơn. Nếu chúng ta có hiểu biết về dinh dưỡng, biết lựa chọn thực phẩm, luyện tập thường xuyên, vừa làm việc vừa thư giãn hợp lý lại tạo ra bầu không khí gia đình vui vẻ thì đó chính là cách chống UT hữu hiệu nhất.
TS.BS. LÊ THÚY TƯƠI
5 nguyên nhân thường gặp gây ung thư họng
Ung thư họng là một loại ung thư đầu-cổ.
Dưới đây là 5 nguyên nhân thường gặp gây ung thư họng.1. Hút thuốc lá: Ung thư họng có mối liên quan mật thiết với hút thuốc lá. Hút thuốc lá không có đầu lọc được cho là làm tăng nguy cơ ung thư họng. Hút thuốc lá không chỉ gây ung thư họng mà còn là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại ung thư khác trên cơ thể như ung thư phổi và ung thư bàng quang.
2. Các chất liệu công nghiệp:Một nghiên cứu cho
thấy hóa chất amiăng hoặc các loại sợi tổng hợp được sử dụng trong nhiều
ngành công nghiệp có thể gây ung thư họng và dẫn tới sự có mặt của các
tế bào ung thư ở thanh quản.
![]() |
5. Uống rượu: Gần 1/3 số bệnh nhân ung thư họng có thói quen uống rượu. Nguy cơ ung thư họng tăng nếu uống nhiều rượu. Theo các chuyên gia thì việc uống rượu gây kích thích các mô họng như việc hút thuốc lá. Chính điều này làm tăng nguy cơ ung thư họng.
Ngoài những nguyên nhân kể trên thì nguy cơ ung thư họng cũng tăng
cao hơn với những người hút thuốc lá thụ động, người thường xuyên phơi
nhiễm với hóa chất và những người giữ vệ sinh răng miệng kém.
Theo An ninh Thủ đô / MMN
Ung thư thực quản, uống thuốc hay phẫu thuật?
Cho đến nay, ung thư thực quản vẫn là một bệnh hay gặp, nằm
trong 10 bệnh ung thư hàng đầu tại Việt Nam. Phần lớn các bệnh nhân ung thư
thực quản thường trên 50 tuổi, nhiều nhất là ở tuổi 60 - 70 và phái nam vẫn chiếm
ưu thế nhiều gấp 2 - 5 lần phụ nữ.
Một yếu tố liên quan khá chặt chẽ đến sự phát sinh của bệnh
là thói quen và chế độ ăn uống. Các chế độ ăn các loại thức ăn có chứa nhiều chất
Nitrosamin trong rau ngâm dấm và thịt xông khói, hoặc thói quen uống các loại
nước có cồn và hút thuốc lá nhiều của những cư dân phương Tây là nguyên nhân
chính gây nên bệnh đã được xác minh.
Ngoài ra, một số vùng thức ăn và nguồn nước uống thiếu các chất vi lượng như: kẽm,
molybeden… cũng là tiền đề cho bệnh ung thư thực quản xuất hiện.
Một số nguyên nhân khác có thể gây nên bệnh được nhiều tác
giả trong và ngoài nước đề cập đến: những tổn thương tiền ung thư của thực quản
như co thắt tâm vị, viêm thực quản trào ngược, teo hẹp thực quản do bỏng…; một
số bệnh có tính di truyền khác như bệnh Tylosis với đặc điểm gây sừng hóa lòng
bàn tay và bàn chân.
Ảnh minh họa |
Ung thư thực quản hay xảy ra ở đoạn nào nhất?
Các nhà giải phẫu và lâm sàng chia thực quản ra làm hai đoạn:
thực quản cổ và thực quản nằm trong lồng ngực. Trong đó, đoạn thực quản nằm
trong lồng ngực lại được chia làm 3 đoạn: đoạn trên, đoạn giữa và đoạn dưới. Về
mặt thực hành điều trị, các bác sĩ thấy rằng ung thực quản đoạn giữa trong lồng
ngực có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất, chiếm 32% và gây nhiều khó khăn cũng như các
biến chứng trong điều trị nhất. Nguyên nhân, ở đoạn này thực quản nằm sát các
cơ quan quyết định sự tồn tại của con người như: khí quản, cung động mạch chủ.
Những triệu chứng cảnh báo
Triệu chứng hay gặp nhất là nuốt khó, bắt đầu với các thức
ăn cứng về sau là các thức ăn lỏng và cuối cùng là cả với nước bọt cũng rất khó
nuốt. Sụt cân và mệt mỏi cũng là các triệu chứng hay thường gặp. Một số bệnh
nhân bị viêm phổi do hít từ những thức ăn đọng lại trong thực quản , tùy theo vị
trí và mức độ xâm lấn của u thực quản mà có thêm các triệu chứng của liệt dây
thần kinh quặt ngược,gây khàn tiếng, khó thở hoặc xâm lấn vào khí phế quản gây sặc, ngạt có thể
tử vong. Các triệu chứng trở nên rõ ràng khi khối u ăn hết lòng của thực quản.
Vấn đề chẩn đoán sớm là rất quan trọng nhất là đối với những
bệnh nhân trên 50 tuổi, có những vấn đề than phiền về nuốt khó hoặc đau khi nuốt. Những bệnh nhân này, khi có những
dấu hiệu rối loạn về nuốt cần phải đi khám bệnh và được đánh giá cụ thể bởi một
bác sĩ chuyên khoa về tiêu hóa hoặc Phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch.
Phần lớn, các bệnh nhân ung thư thực quản nếu không được điều
trị đều chết trong tình trạng suy kiệt vì không ăn uống được, mặc dù rất thèm
ăn và bên cạnh có rất nhiều thức ăn ngon.
Khi đó, nếu bạn được khám bởi một bác sĩ có kinh nghiệm
thì xét nghiệm đầu tiên cần nghĩ đến là
nội soi thực quản để loại trừ các tổn thương ác tính. Chụp thực quản với thuốc
cản quang cũng cho phép chẩn đoán chính xác với độ dương tính cao, hình ảnh thường
gặp là các hình khuyết của niêm mạc. Tuy nhiên, hình ảnh giãn to phía trên khối
u chỉ hay gặp ở các khối u lành tính của thực quản mà ít gặp trong trường hợp u
ác tính. Ngoài việc xác định chẩn đoán bằng nội soi thực quản có khi còn cần phải
nội soi phế quản bổ sung. Việc sinh thiết và làm giải phẫu bệnh là rất quan trọng
trong quá trình chẩn đoán bệnh, với kết quả thu được, người thầy thuốc sẽ xác định
được tiên lượng của bệnh và chọn lựa phương pháp điều trị thích hợp cho bệnh
nhân.
Tuy là xét nghiệm khá đắt tiền, nhưng không thể thiếu được đối
với người bác sĩ phẫu thuật là kỹ thuật chụp X-quang cắt lớp điện toán (CT
Scan) với những thông số thu thập được, chúng tôi sẽ quyết định có phẫu thuật
triệt để, phẫu thuật nuôi ăn tạm thời hay chỉ điều trị nội khoa nâng đỡ những
ngày cuối cùng cho bệnh nhân mà thôi.
Uống thuốc hay phẫu thuật?
Phần lớn những bệnh nhân của chúng tôi nói riêng và bệnh
nhân Việt Nam
nói chung đều rất sợ mổ. Họ và cả thân nhân đều coi mổ là một cái gì ghê gớm lắm,
đáng sợ lắm, nguy hiểm lắm. Quan niệm trên hoàn toàn trái ngược với các quốc
gia trên thế giới, nguyên nhân là tại sao? Xin dành câu trả lời ấy cho các nhà
xã hội học và tâm lý học.
Trở lại với những bệnh nhân ung thư thực quản, trải qua một
thời gian dài phát triển của y học, cho đến ngày hôm nay không có một phương
pháp điều trị chỉ uống thuốc đơn thuần có thể làm khỏi bệnh. Có ba phương pháp
chính để điều trị: xạ trị, hóa trị và phẫu thuật, trong đó phẫu thuật là phương
pháp điều trị chính cho kết quả tốt và tạo cho người bệnh một cuộc sống tương đối
tốt vào những ngày cuối cùng của cuộc đời.
Các phương pháp phẫu thuật chính
Phẫu thuật triệt để: cắt bỏ toàn bộ thực quản và tái tạo thực
quản mới bằng dạ dày. Đây là phương pháp tốt nhất giúp người bệnh kéo dài và nâng cao chất lượng cuộc sống. Do tính chất
khó khăn và phức tạp của phẫu thuật nên thời gian cuộc mổ thường kéo dài 5 - 6 giờ và bệnh nhân phải
được đánh giá kỹ xem có khả năng chịu đựng được cuộc mổ hay không.
Phẫu thuật tạo thực quản giả bằng đại tràng, không cắt bỏ khối
ung thư: với phẫu thuật này, tiên lượng bệnh không thay đổi vì không cắt bỏ được
khối ung thư, phẫu thuật chỉ giúp cho bệnh nhân có thể ăn uống bằng đường miệng,
nhưng cũng khó khăn. Có một thời gian, loại phẫu thuật này khá thịnh hành ở một
số bệnh viện tại TP.HCM, cho đến nay ít người sử dụng.
Một loại phẫu thuật nữa mang tính chất tạm thời, giúp bệnh
nhân không bị chết đói là kỹ thuật mở thông ruột non hay dạ dày nuôi ăn. Qua một
ống thông được đưa vào dạ dày hay ruột non, người ta bơm các loại thức ăn lỏng
vào ống tiêu hóa giúp cho bệnh nhân sống được thay vì ăn bằng đường miệng. Loại
phẫu thuật này thường áp dụng cho những bệnh nhân có các dấu hiệu nặng không thể
tiến hành cuộc mổ triệt để như:
- Bệnh nhân đã có các biến chứng do bướu ăn lan: khàn tiếng,
khó thở do liệt dây thần kinh quặt ngược, hội chứng Horner, đau cột sống dai dẳng
do di căn, liệt cơ hoành do tổn thương thần kinh, rò thực quản - khí quản và
tràn dịch màng phổi ác tính.
- Khối ung thư thực quản quá lớn: dài trên 8cm và yếu tố
dinh dưỡng sụt trên 20% cân nặng trong thời gian một tháng.
Một kỹ thuật mới cũng đã được một số bệnh viện dùng cho những
bệnh nhân ở giai đoạn không thể phẫu thuật triệt để được, đó là đặt khung đỡ
qua đường nội soi thực quản. Kỹ thuật này cũng chỉ mang tính tạm thời, kéo dài
vài ba tháng và giá thành cũng khá đắt so với mặt bằng thu nhập của người dân
Việt Nam.
PGS.TS.BS. NGUYỄN HOÀI NAM
Những dấu hiệu không phải ung thư
Hầu hết phụ nữ đều có nỗi lo tiềm ẩn về
bệnh ung thư vú, nhất là khi nhận thấy một vài thay đổi bất thường.
Trước khi đi kiểm tra, hãy nắm chắc kiến thức về một số biểu hiện lành
tính, mặc dù có thể khiến mọi người lo lắng nhưng dễ nhầm lẫn là dấu
hiệu ung thư.
![]()
Ảnh minh hoạ( nguồn: internet)
|
U nang: Phát hiện ra một khối u vùng ngực ai cũng sợ, nhưng nhiều
cục u đơn giản là u nang, hoàn toàn lành tính và tương đối dễ điều trị.
Là túi chứa chất lỏng có kích thước từ vài milimét đến một quả bóng
golf, u nang có liên quan đến việc mở rộng các ống dẫn sữa và phổ biến
nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 30 - 40. Chúng có thể gây đau, nhất là quanh
kỳ kinh. Để đánh giá chính xác đòi hỏi phải siêu âm, quan trọng là u
nang không liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú, cũng không biến thành
ung thư vú.
Nóng phát ban. Các chuyên gia da liễu cho biết, phụ nữ có bộ ngực lớn, đặc biệt là những người tránh né mặc áo ngực rất dễ bị nóng phát ban. Điều này tạo điều kiện cho nhiễm trùng nấm men, bởi nấm men phát triển mạnh trong môi trường ẩm. Phát ban do nhiệt sẽ làm cho vùng da có màu đỏ, đôi khi một chút có vảy, có thể gây đau hoặc ngứa. Điều trị thường liên quan đến thuốc bột kháng nấm, đặc biệt luôn giữ khu vực này sạch, khô và mặc một chiếc áo ngực bằng vải cotton để da thoáng thở hơn.
Núm vú ngứa: Ngứa núm vú có thể xảy ra đối với cả nam và nữ giới, do một số nguyên nhân như dị ứng (do bột giặt quần áo, hoặc thành phần hóa chất có trong áo lót), do eczema, thời kỳ mang thai và cho con bú. Lưu ý là hãy đi gặp bác sĩ nếu cảm giác khó chịu kéo dài, nhất là hiện tượng chỉ xảy ra ở một bên chứ không phải cả đôi.
Viêm vú: Vừa bắt đầu cho con bú, nhiều bà mẹ thấy ngực sưng, đỏ và đau khi chạm vào, cùng với đó là hiện tượng sốt, người ớn lạnh. Đó là dấu hiệu nhiễm trùng các mô vú, hay còn gọi là viêm vú. Tình trạng này là do tắc tuyến sữa hoặc vi khuẩn xâm nhập vào ống dẫn, thường xảy ra trong 3 tháng đầu sau sinh nhưng cũng có thể là sau khoảng thời gian đó đối với những bà mẹ không cho con bú thường xuyên. Cùng với điều chỉnh việc cho con bú, bà mẹ có thể phải uống kháng sinh hoặc phẫu thuật loại bỏ áp-xe.
Tự ra sữa. Hiện tượng đột nhiên có sữa trong khi người phụ nữ không mang thai hay vừa sinh con tên khoa học gọi là galactorrhea. Tình trạng này còn có thể xảy ra ở nam giới và trẻ sơ sinh, nhưng nhìn chung không quá nghiêm trọng, bởi nguyên nhân là sự kích thích quá mức của tuyến vú, do ảnh hưởng của thuốc hay rối loạn về tuyến giáp, tuyến yên. Chỉ nên lo lắng khi thấy chất dịch tiết ra có máu.
Ngực không đều: Một thống kê khá bất ngờ là khoảng 25% ngực của phụ nữ có sự bất đối xứng, mặc dù đôi khi sự khác biệt là không đáng kể. Tình trạng bẩm sinh đã không đồng đều là phổ biến hơn cả. Nhiều phụ nữ cảm thấy mặc cảm nên khắc phục tình trạng này bằng một miếng đệm hoặc phẫu thuật thẩm mỹ. Đi kiểm tra cụ thể nếu nhận thấy sự thay đổi đột ngột trong kích thước hay vẻ bề ngoài của một trong hai bên ngực.
Vú phụ: Một số phụ nữ phàn nàn về kích thước bộ ngực hoặc số lượng vú nhiều hơn bình thường. Theo một báo cáo năm 2007 của Hiệp hội Bác sỹ phẫu thuật Mỹ, Polymastia (hay còn gọi là vú phụ hoặc vú dư) là một bệnh lành tính ảnh hưởng đến 6% dân số, cả nam và nữ. Thường bị chẩn đoán nhầm là u mỡ, thực chất vú phụ là một dị tật bẩm sinh nhỏ, gồm có núm vú hoặc mô có liên quan, hay có ở trên ngực dọc theo đường vú phôi thai. Đường này kéo dài từ ngoài hố nách trên cánh tay đi xuống ngực, bụng, bẹn, vì thế đôi khi vú phụ đi lạc chỗ, không chỉ nằm ở ngực.
Nóng phát ban. Các chuyên gia da liễu cho biết, phụ nữ có bộ ngực lớn, đặc biệt là những người tránh né mặc áo ngực rất dễ bị nóng phát ban. Điều này tạo điều kiện cho nhiễm trùng nấm men, bởi nấm men phát triển mạnh trong môi trường ẩm. Phát ban do nhiệt sẽ làm cho vùng da có màu đỏ, đôi khi một chút có vảy, có thể gây đau hoặc ngứa. Điều trị thường liên quan đến thuốc bột kháng nấm, đặc biệt luôn giữ khu vực này sạch, khô và mặc một chiếc áo ngực bằng vải cotton để da thoáng thở hơn.
Núm vú ngứa: Ngứa núm vú có thể xảy ra đối với cả nam và nữ giới, do một số nguyên nhân như dị ứng (do bột giặt quần áo, hoặc thành phần hóa chất có trong áo lót), do eczema, thời kỳ mang thai và cho con bú. Lưu ý là hãy đi gặp bác sĩ nếu cảm giác khó chịu kéo dài, nhất là hiện tượng chỉ xảy ra ở một bên chứ không phải cả đôi.
Viêm vú: Vừa bắt đầu cho con bú, nhiều bà mẹ thấy ngực sưng, đỏ và đau khi chạm vào, cùng với đó là hiện tượng sốt, người ớn lạnh. Đó là dấu hiệu nhiễm trùng các mô vú, hay còn gọi là viêm vú. Tình trạng này là do tắc tuyến sữa hoặc vi khuẩn xâm nhập vào ống dẫn, thường xảy ra trong 3 tháng đầu sau sinh nhưng cũng có thể là sau khoảng thời gian đó đối với những bà mẹ không cho con bú thường xuyên. Cùng với điều chỉnh việc cho con bú, bà mẹ có thể phải uống kháng sinh hoặc phẫu thuật loại bỏ áp-xe.
Tự ra sữa. Hiện tượng đột nhiên có sữa trong khi người phụ nữ không mang thai hay vừa sinh con tên khoa học gọi là galactorrhea. Tình trạng này còn có thể xảy ra ở nam giới và trẻ sơ sinh, nhưng nhìn chung không quá nghiêm trọng, bởi nguyên nhân là sự kích thích quá mức của tuyến vú, do ảnh hưởng của thuốc hay rối loạn về tuyến giáp, tuyến yên. Chỉ nên lo lắng khi thấy chất dịch tiết ra có máu.
Ngực không đều: Một thống kê khá bất ngờ là khoảng 25% ngực của phụ nữ có sự bất đối xứng, mặc dù đôi khi sự khác biệt là không đáng kể. Tình trạng bẩm sinh đã không đồng đều là phổ biến hơn cả. Nhiều phụ nữ cảm thấy mặc cảm nên khắc phục tình trạng này bằng một miếng đệm hoặc phẫu thuật thẩm mỹ. Đi kiểm tra cụ thể nếu nhận thấy sự thay đổi đột ngột trong kích thước hay vẻ bề ngoài của một trong hai bên ngực.
Vú phụ: Một số phụ nữ phàn nàn về kích thước bộ ngực hoặc số lượng vú nhiều hơn bình thường. Theo một báo cáo năm 2007 của Hiệp hội Bác sỹ phẫu thuật Mỹ, Polymastia (hay còn gọi là vú phụ hoặc vú dư) là một bệnh lành tính ảnh hưởng đến 6% dân số, cả nam và nữ. Thường bị chẩn đoán nhầm là u mỡ, thực chất vú phụ là một dị tật bẩm sinh nhỏ, gồm có núm vú hoặc mô có liên quan, hay có ở trên ngực dọc theo đường vú phôi thai. Đường này kéo dài từ ngoài hố nách trên cánh tay đi xuống ngực, bụng, bẹn, vì thế đôi khi vú phụ đi lạc chỗ, không chỉ nằm ở ngực.
Theo ANTĐ/MSN.com
Giảm thời gian điều trị cho bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến
Theo một nghiên cứu mới nhất, xạ trị trong điều trị ung thư tiền liệt
tuyến có thể rút ngắn chỉ còn 5 ngày mà vẫn đạt hiệu quả diệt sạch tế
bào ung thư giai đoạn sớm giống như điều trị dài ngày.
Sử dụng một công nghệ mới xạ trị toàn thân (SBRT), các nhà nghiên cứu tiến hành một nghiên cứu bao gồm điều trị 5 ngày và theo dõi thêm 33 tháng, không ai trong số 40 bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến bị tái phát bệnh, tuy nhiên các tác dụng phụ của phương pháp này cũng tương tự phương pháp điều trị kinh điển bao gồm các vấn đề về trực tràng về hệ tiết niệu.
Theo PGS.TS. Christopherb King, Khoa điện quang Đại học Y Stanford, California: điều trị tia xạ dài ngày cần theo dõi vất vả và các tác dụng phụ có thể kéo dài đến 10 năm sau đó. Với số ngày xạ trị chỉ giảm xuống còn 5 ngày sẽ giúp bệnh nhân tránh được các nguy cơ nói trên.
Sử dụng một công nghệ mới xạ trị toàn thân (SBRT), các nhà nghiên cứu tiến hành một nghiên cứu bao gồm điều trị 5 ngày và theo dõi thêm 33 tháng, không ai trong số 40 bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến bị tái phát bệnh, tuy nhiên các tác dụng phụ của phương pháp này cũng tương tự phương pháp điều trị kinh điển bao gồm các vấn đề về trực tràng về hệ tiết niệu.
Theo PGS.TS. Christopherb King, Khoa điện quang Đại học Y Stanford, California: điều trị tia xạ dài ngày cần theo dõi vất vả và các tác dụng phụ có thể kéo dài đến 10 năm sau đó. Với số ngày xạ trị chỉ giảm xuống còn 5 ngày sẽ giúp bệnh nhân tránh được các nguy cơ nói trên.
Chính Anh


Chủ Nhật, tháng 7 27, 2014
doanh nhan




Ảnh minh họa