ĐIỀU TRỊ BỆNH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN 0906143408

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Bệnh ung thư và những điều chưa biết

PGS.TS Ngô Thị Thu Thoa, nguyên Phó Trưởng khoa Giải phẫu bệnh - tế bào (BV K Hà Nội), đề nghị chú ý hơn nữa đào tạo cán bộ chẩn đoán, giải phẫu bệnh. “Muốn chữa bệnh tốt phải chẩn đoán đúng, khâu này chúng ta còn rất mỏng” - bà Thoa nói.
Phần lớn do tác nhân gây nhiễm
Ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chiếm hơn 12% các loại ung thư. Ước tính tỉ lệ tử vong do ung thư phổi bằng tổng cộng bốn loại ung thư đại tràng, vú, tiền liệt tuyến và tụy cộng lại. 
Mỗi năm Việt Nam có khoảng 20.000 người bị ung thư phổi, chủ yếu là nam và có đến 17.000 trường hợp tử vong. Đặc biệt là có đến hơn 62% nhập viện ở giai đoạn muộn, không còn khả năng phẫu thuật. Xếp thứ hai ung thư ở nam giới là gan, đại trực tràng, dạ dày, vòm hầu.
Ở nữ giới, ung thư vú chiếm hàng đầu với 7.000 - 12.000 ca mắc mới mỗi năm, tỉ lệ tử vong chiếm 35%; tiếp đến cổ tử cung, đại trực tràng, phổi và tuyến giáp.
Theo GS.BS Nguyễn Chấn Hùng - Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, ngoài thuốc lá là nguy cơ gây ung thư lớn nhất, các tác nhân gây nhiễm là nguyên nhân của 18% tất cả ung thư trên toàn cầu. 
Vi khuẩn HP tăng nguy cơ ung thư dạ dày, các virus HPV nguy cơ cao là ung thư cổ tử cung, các ung thư dương vật, âm đạo, hậu môn và họng miệng. 
Các virus HBV, HCV gây ung thư gan. Một vi khuẩn và ba virus kể trên gây đến 15% ung thư của loài người. Các biện pháp phòng bệnh gồm tiêm vaccine và ngừa nhiễm trùng.
Có đến 40 tác nhân gây ung thư trong môi trường làm việc; 1,4% các ung thư do ô nhiễm môi trường từ không khí, nước và đất…
Nhiều điều chưa biết về ung thư - 1Nguy cơ ung thư có thể đến từ nguồn thực phẩm bẩn trong bữa ăn hằng ngày. Ảnh: AT
Không xét nghiệm nào phát hiện hết bệnh
GS.BS Nguyễn Chấn Hùng chia sẻ lâu nay trọng tâm của những người làm công tác phòng, chống ung thư là làm cho mọi người hiểu được bệnh ung thư và đừng nghĩ bệnh ung thư không trị được. Siêu âm, soi trong ruột, dạ dày... để biết được sớm các triệu chứng ung thư và biết đi khám bệnh sớm.
“Về điều trị, bà con uống lá đu đủ, lá sống đời, uống sừng tê giác... để trị ung thư là không biết gì hết, xem cái mạng mình nhẹ quá. Phải đi bác sĩ khám để điều trị đúng cùng nhiều phương pháp mới hóa-xạ trị, phương pháp nhắm trúng đích...” - GS Hùng nói.
Cũng theo GS Hùng: “Nhiều bà con sợ quá hỏi tôi ăn thịt heo, bò nuôi bằng chất gây ung thư thì có nguy hiểm không. Vấn đề này trách nhiệm của Nhà nước rất lớn nhưng từng người phải biết tự lựa chọn món ăn. Thí dụ như hút thuốc lá nặng 20 năm sẽ “trổ ra” ung thư. 
Các chất khác cũng vậy, không phải ăn một, hai lần là bị mà tránh không dùng lâu, hạn chế tiếp cận các chất gây ung thư. Bà con đừng hoảng hốt nhưng đừng coi thường!”.
Thí dụ, vi khuẩn HP nằm lâu gây viêm loét bao tử thì mới gây ung thư. Tỉ lệ rất nhỏ nhưng con HP kết hợp với khói thuốc lá và chế độ ăn uống thiếu rau trái sẽ thúc đẩy ung thư cao hơn.
Nhưng vấn đề là làm sao để bà con đi khám tầm soát ung thư và khám tầm soát ở đâu.
BS.CK2 Trần Nguyên Hà, BV Ung bướu TPHCM, cho rằng chương trình Ngày mai tươi sáng đang triển khai ở nhiều bệnh viện là cơ hội để mọi người đi tầm soát ung thư. Tuy nhiên, không có một xét nghiệm nào phát hiện được hết các bệnh trong cơ thể. 
Thí dụ, ở nam giới, ung thư phổi chiếm hàng đầu, tử vong cũng cao nhất thì những người hút thuốc nhiều, người hút thuốc thụ động, tiền căn gia đình bị ung thư thì nên đến các bệnh viện chuyên khoa để chụp X-quang, xét nghiệm đờm... để tầm soát. Với phụ nữ, gia đình có tiền căn ung thư vú... thì nên đến các bệnh viện có khoa sản để chụp nhũ ảnh tầm soát.
BS.CK2 Lê Hoàng Minh, Giám đốc BV Ung bướu TPHCM, cho biết các phương pháp điều trị nội - ngoại - hóa xạ trị của ngành ung thư Việt Nam hiệnngang tầm khu vực và thế giới. 
Thế giới có trang thiết bị kỹ thuật cao thì Việt Nam cũng có, hóa trị dùng các liệu pháp trúng đích Việt Nam cũng áp dụng, phẫu thuật cũng vậy. 
Về chất lượng điều trị, theo BS Minh, nếu bệnh nhân đến sớm, phát hiện ung thư kịp thời thì chất lượng cuộc sống sau điều trị rất tốt, điều này ở Việt Nam và thế giới là như nhau. Nhưng bệnh nhân Việt Nam thường đến bệnh viện khi ung thư đã nặng, con số này chiếm đến 30%.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


5 hiểu lầm cực phổ biến về căn bệnh ung thư

Khi nói đến ung thư, chúng ta thường mang tâm lý sợ hãi và cho rằng đây là căn bệnh "vô phương cứu chữa". Thực chất, cơ chế khởi phát của ung thư đã được làm rõ, và chúng ta hoàn toàn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nếu biết cách điều chỉnh sinh hoạt. Cùng hiểu kĩ và đúng hơn về ung thư, vì một tương lai luôn khỏe mạnh bạn nhé!
Theo Thu Hương - Lệ Ngân - Tri thức trẻ


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317



10 bệnh ung thư hàng đầu dễ mắc ở Việt Nam

10 bệnh ung thư hàng đầu dễ mắc ở Việt Nam



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Bệnh ung thư: Thế nào là phát hiện sớm?

Ung thư là mối lo ngại của bất cứ ai trong cộng đồng khi mà hàng ngày, hàng giờ tiếp xúc với khói bụi, đồ ăn mất vệ sinh hoặc kém chất lượng, lối sống thiếu lành mạnh như hút thuốc, uống rượu bia... 
Hiệp hội phòng chống ung thư Quốc tế cho hay, mỗi năm có hơn 14 triệu người mắc mới ung thư trên thế giới, 8,2 triệu người tử vong, điều đáng nói là 2/3 trong số này ở các nước thu nhập thấp hay trung bình.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, ung thư đang trở thành gánh nặng về sức khỏe, kinh tế xã hội toàn cầu, không chỉ các nước đang phát triển mà cả các nước đã phát triển. Việt Nam hiện có tỷ lệ mắc mới và hiện mắc ở mức cao trên thế giới. Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, nhiều người vẫn nghĩ ung thư là vô phương cứu chữa nhưng không phải như vậy.
Bệnh ung thư: Thế nào là phát hiện sớm?
Một bệnh nhân ung thư được cứu sống nhờ tiến bộ y học
Bằng các biện pháp phòng bệnh có thể phòng ngừa được 30% bệnh ung thư, chẳng hạn không hút thuốc phòng ngừa 90% nguy cơ mắc ung thư phổi, không nghiện rượu có thể phòng ngừa được 80% nguy cơ mắc ung thư thực quản, tiêm vắc xin viêm gan B có thể phòng được viêm gan siêu vi B từ đó phòng ngừa ung thư gan, tiêm vắc xin HPV phòng ngừa cổ tử cung.
Cũng theo Bộ trưởng Bộ Y tế, qua phương phát hiện sớm, điều trị kịp thời có thể cứu chữa khỏi được 30% bệnh nhân ung thư. Nếu điều trị tích cực, đúng phác đồ, có giảm nhẹ thích hợp, trị kịp thời có thể kéo dài thời gian sống cho 1/3 bệnh nhân ung thư còn.
Về khả năng chữa khỏi căn bệnh này, theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, ở các nước phát triển, con người đã chữa khỏi 80% bệnh nhân bệnh ung thư, còn trẻ em có thể chữa khỏi 60% bệnh ung thư.
Còn ở nước ta, tỷ lệ chữa khỏi căn bệnh này chưa nhiều như mong muốn. Bởi tỷ lệ nhiều bệnh nhân tới khám, điều trị ở giai đoạn muộn mặc dù đã có nhiều trang thiết bị hiện đại.
Để phòng căn bệnh này, Bộ trưởng Bộ Y tế đưa ra lời khuyên, mỗi người hãy có lối sống lành mạnh, không uống rượu bia, rèn luyện thể dục, tiêm phòng vắc xin, khám sức khỏe định kỳ.
Phát hiện càng sớm càng có thể chữa khỏi
GS.TS Nguyễn Bá Đức (Phó Chủ tịch hội Ung thư Việt Nam, nguyên Giám đốc bệnh viện K) cho biết, có những em bé còn nhỏ bị ung thư là do đột biến ở bào thai hay di truyền. Còn ung thư ở người lớn trải qua quá trình tích lũy nguy cơ, chất độc.
"Hút thuốc lá càng nhiều năm thì tích lũy chất độc càng nhiều thì nguy cơ ung thư càng cao. Quá trình ăn uống hàng ngày, chất ô nhiễm tích lũy, lao động nghề nghiệp trong môi trường có nhiều nguy cơ, môi trường tự nhiên như tia phóng xạ, khói bụi...gây đột biến tế bào thành ung thư", bác sĩ Đức nói.
Phát hiện sớm bệnh ung thư hoàn toàn có thể chữa khỏi bệnh. Một số bệnh ung thư chữa hết chi phí thấp và hiệu quả chữa cao.
Về khái niệm sớm của bệnh ung thư, theo GS.TS Nguyễn Bá Đức, bệnh ung thư tiến triển thầm lặng. Khi một số tế bào đột biến đầu tiên không có triệu chứng rõ rệt. Còn khi đã xuất hiện những triệu chứng lâm sàng tức là giai đoạn muộn.
"Khoa học khuyến cáo cần có tầm soát để phát hiện ung thư thường gặp như ung thư da hay cổ tử cung, hoặc khối u ở đại trực tràng", Giáo sư nhấn mạnh.
Về các giai đoạn của bệnh, ung thư có giai đoạn 0- đến giai đoạn 4. Giai đoạn 0 có thể tình cờ phát hiện qua khám bệnh và sinh thiết của bác sĩ tiến hành, giai đoạn 1 còn nhỏ và kích thước khối u dưới 2 cm, chưa có hạch. Giai đoạn 2 muộn hơn nhưng vẫn còn tương đối sớm, hạch xung quanh khu vực khối u vàchưa lan rộng, giai đoạn 3-4 có hạch lan ra khu vực khác, di căn xa sang các nội tạng như xương, phổi, gan. Phát hiện càng muộn, tiên lượng càng xấu, điều trị tốn kém, kết quả thấp.
Ngoài ra, hiện nay, nhiều người vẫn có tâm lý giấu bệnh do sợ đi khám vì đông đúc, quá tải hoặc quan niệm sai lầm do ăn ở không tốt. Về mặt quá tải, bác sĩ Đức cho rằng, với sự quan tâm đầu tư, hiện nay tình trạng quá tải đã được cải thiện. Còn về mặt nhận thức của người bệnh cần phải tuyên truyền, hướng dẫn để mọi người hiểu đúng.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Cảnh giác với ung thư nốt ruồi

Qua nghiên cứu người ta thấy có hai loại nốt ruồi: Loại nốt ruồi có những tế bào nốt ruồi hình cầu, và loại nốt ruồi giả trông giống nốt ruồi nhưng khi xét nghiệm không có tế bào nốt ruồi. 

Chỉ những nốt ruồi chính cống mới có khả năng biến thành ung thư và thường do bị chúng ta kích thích nhiều như cậy, gãi, sờ mó, tẩy xóa nó. Vì vậy đa số các ung thư nốt ruồi xảy ra ở mặt và ở nữ giới. 

Bình thường chúng nằm yên mãi không sao, nhưng một khi đã biến thành ung thư thì cực kỳ nguy hiểm, dễ dẫn đến tử vong. Việc phát hiện sớm những dấu hiệu của một nốt ruồi đã trở thành ác tính là vô cùng quan trọng.
Theo các chuyên gia nghiên cứu về vấn đề này, khi một nốt ruồi đã trở thành ác tính, thường có những dấu hiệu sau đây:
- Nốt ruồi to lên rất nhanh, chỉ trong một thời gian ngắn từ vài tuần đến 1-2 tháng to lên trông thấy.
- Thấy ngứa ở nốt ruồi, khiến ta phải gãi hoặc xoa bóp vào nó.
- Nốt ruồi bắt đầu biến màu sẫm dần.
- Nếu thấy chỗ nốt ruồi loét sùi ra càng chắc chắn nó đã biến thành ác tính.
Khi thấy các dấu hiệu trên phải đến ngay bệnh viện để xác định bệnh và điều trị sớm.
Cần nhớ ung thư nốt ruồi là loại rất nguy hiểm, phát triển nhanh, di căn nhanh, gây ung thư thứ phát ở gan, xương, phổi, não, hệ thống hạch... Nhưng nếu bệnh được phát hiện sớm, điều trị kịp thời ngay từ lúc nốt ruồi bắt đầu chuyển sang ác tính thì tỷ lệ khỏi bệnh khá cao.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Ung thư vú - căn bệnh của chị em phụ nữ thời hiện đại

Hiện nay, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú rất cao. Tại Việt Nam, 100.000 phụ nữ thì có gần 30 người mắc bệnh này, đặc biệt ở các thành phố lớn.

Ung thư ngày càng trẻ hóa
Chị Ngô Thanh Hà 30 tuổi, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội sốc nặng khi phát hiện ra có một khối u ở vú trong lần đi khám sức khỏe tổng quát. Chị Hà vẫn chưa tin vào kết quả này vì chị hoàn toàn khỏe mạnh. Chị đi khám tổng quát, bác sĩ siêu âm vú phát hiện có khối u và cho chị về, tháng sau kiểm tra lại.
Trong đợt kiểm tra này, bác sĩ đã chụp nhũ ảnh. Kết quả, chị Hà bị ung thư vú giai đoạn 1. Các bác sĩ đã mổ bảo tồn vú và tiến hành xạ trị cho chị Hà. Mái tóc chỉ còn vài cái vì đã rụng do hóa chất, chị Hà chỉ khóc “em không biết vì sao mình bị mắc bệnh này. Các bác sĩ còn bảo em nên khuyên em gái, chị gái đi kiểm tra vì bệnh có yếu tố gia đình. Em rất hoang mang”.
Cách đây 6 năm, mẹ chị Hà cũng bị ung thư vú di căn xương và đã qua đời.
Cùng cảnh ngộ như chị Hà, chị Lương Thị Xuyến trú tại Hạ Long, Quảng Ninh cũng được chẩn đoán ung thư vú khi mới 27 tuổi. Chị Xuyến cho biết thấy ngực chảy dịch vàng nên chị đi khám. Ai dè bác sĩ cho biết bị ung thư đã sang giai đoạn muộn.
Ung thu vu -can benh cua chi em phu nu thoi hien dai
Nhiều phụ nữ bị ung thư vú đã di căn chờ lấy mooc phin tại khoa chống đau, bệnh viện K
PGS Phạm Duy Hiển – Nguyên phó Giám đốc Bệnh viện K trung ương cho biết, ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ và đặc biệt ở các nước phát triển. Tình trạng gia tăng ung thư vú dường như song hành với lối sống hiện đại.
Các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi trước đây tỷ lệ mắc chỉ khoảng dưới 10/100.000 phụ nữ thì năm 2012 đã lên tới 20 - 30 /100.000. Các nước ở Nam Âu, Đông Âu, Nam Mỹ vào khoảng 40 -60/100.000 và Úc, Tây Âu, Bắc Mỹ trên 50 tuổi có tỷ lệ mắccao đến 150/100.000 phụ nữ.
Tại Việt Nam, thống kê của đầu những năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 16/100.000 phụ nữ thì hiện nay con số này đã là 29/100.000 phụ nữ. Ghi nhận của hội Phòng chống Ung thư Việt Nam cho thấy, các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM có tỷ lệ mắc cao hơn các tỉnh thành phố khác như Thái Nguyên, Hải Phòng, Huế và Cần Thơ.
Tuổi mắc bệnh trung bình của phụ nữ Việt Nam trong khoảng 40 - 50 tuổi, trong khi ở Mỹ tuổi này là khoảng 50 - 65 tuổi.
Căn bệnh của xã hội hiện đại
Nguyên nhân của ung thư vú, theo bác sĩ Hiển, cũng như phần lớn các loại ung thư khác người ta chưa tìm được nguyên nhân trực tiếp gây ung thư vú. Nhiều nghiên cứu ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau, người ta chỉ thấy mối liên quan chặt chẽ giữa một số yếu tố như môi trường xung quanh cũng như nội tại cơ thể với ung thư vú gọi là yếu tố nguy cơ ngoại sinh và yếu tố nguy cơ nội sinh.
Các yếu tố nguy cơ ngoại sinh, 80% ung thư nói chung cũng như ung thư vú liên quan đến các yếu tố như môi trường sống. Tỷ lệ phụ nữ mắc ung thư vú cao hơn ở các nước phát triển là một minh chứng. Có thể do lối sống hiện nay như hút thuốc lá, uống bia rượu, chế độ ăn uống nhiều năng lượng, ít rau xanh, hoa quả tươi và các chất xơ.
Các thuốc tránh thai, nạo phá thai, vấn đề sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ, sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm công nghiệp, thậm chí, có nghiên cứu cho biết ô nhiễm ánh sáng cũng gia tăng tỷ lệ ung thư vú.
Ngoài ra, phụ nữ có kinh nguyệt sớm trước 13 tuổi với phụ nữ Việt Nam, trước 12 tuổi với phụ nữ Mỹ và tắt kinh muộn sau 50 tuổi có khả năng mắc ung thư vú cao hơn người khác. Cũng như vậy với phụ nữ có con đầu lòng sau 30 tuổi và không sinh con lần nào hoặc không cho con bú có tỉ lệ ung thư vú cao hơn.
Ung thư vú là loại ung thư có liên quan với di truyền khá cao. Có đến 5 - 10 % số bệnh nhân ung thư vú liên quan đến gen di truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau. Những người có mẹ bị ung thư vú thì tỷ lệ bị ung thư vú cao gấp đôi người thường ở lứa tuổi 40 - 50.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


U tủy sống có thể trị khỏi bằng phẫu thuật

Đa số trường hợp u tủy đều phải mổ để giải quyết khối u và giải phóng sự chèn ép.

Thông thường các loại u tân sinh phát triển không ngừng, ngày càng to ra, chèn ép nhiều vào tủy và hệ thống thần kinh nên buộc phải mổ. 
Một số loại không phải là u tân sinh nhưng cũng phát triển to ra, chẳng hạn như nang thượng bì hoặc u quái, u mỡ… khi đã có triệu chứng cũng phải mổ lấy u. 
Chỉ có các u lympho (lymphoma) đáp ứng nhạy với hóa trị và u tế bào mầm (germinoma) nhạy với tia xạ, còn hầu hết các trường hợp khác đều phải giải quyết bằng phẫu thuật.
Đối với u ở màng cứng ngoài tủy, việc mổ lấy u khá dễ dàng vì chúng thường chỉ dính một phần nhỏ vào các dây thần kinh hoặc màng tủy. 
Những trường hợp u màng não tủy dính vào màng tủy ở phía trước, có thể dễ dàng cắt bỏ màng tủy để tránh tái phát, song việc khâu kín nó để tránh dò dịch não tủy ra ngoài rất khó khăn. 
Hiện nay, với xu hướng phẫu thuật ít xâm lấn, nhiều tác giả chủ trương chỉ bóc tách cơ một bên, cắt một bên bản sống và sau đó cắt u ra từng mảnh nhỏ để lấy ra khối u trong màng cứng. Nhờ vậy, cuộc mổ trở nên nhẹ nhàng hơn.
chua-u-tuy-song-bang-phau-thuat
Khối u tủy sống sau khi được phẫu thuật lấy ra. Ảnh: Tiến sĩ, bác sĩ Võ Xuân Sơn.
Trong các trường hợp u ngoài màng cứng, việc lấy hết khối u thường khó khăn hơn vì chúng có thể ăn lan ra nhiều hướng khác nhau, hủy xương nhiều, chảy máu nhiều, đặc biệt khi xương bị hủy thì phải nạo sạch, ghép xương rồi cố định nẹp vít… 
Cuộc mổ này khá nặng nề. Hơn nữa những ca u ngoài màng cứng thường là di căn, khả năng hồi phục kém, thời gian sống còn lại không dài. 
Chính vì vậy bác sĩ phải cân nhắc có nên mổ không. Nếu thấy phẫu thuật không có lợi, nhiều bác sĩ chỉ định hóa trị, xạ trị, dù hầu như không có tác dụng gì mà chỉ giúp người bệnh không cảm thấy bị bỏ rơi.
Đối với các trường hợp u nội tủy, trước đây người ta cho rằng mổ chỉ nhằm giải ép chứ không thể lấy hết khối u. Phần xử lý khối u được giao cho khâu xạ trị. Tuy nhiên càng về sau các bác sĩ nhận thấy xạ trị không những không diệt được khối u mà còn diệt cả phần tủy không bị bệnh, góp phần sinh ra các u khác.
Gần đây vai trò của phẫu thuật trong điều trị u nội tủy mới được xác định một cách đúng đắn. Với sự phát triển của các phương tiện hỗ trợ phẫu thuật và chẩn đoán, việc mổ lấy hết khối u trong tủy không còn là "chuyện viễn vông". 
Sau nhiều ca mổ lấy hết u, người ta mới nhận ra rằng đối với u nội tủy có độ ác tính thấp, chỉ cần mổ lấy hết u là triệt để, không cần xạ trị hay hóa trị, khả năng tái phát rất thấp.
Khó khăn lớn nhất trong phẫu thuật u nội tủy là phải đảm bảo mổ lấy hết u mà không làm hư tủy. Đây thực sự là một thách thức rất lớn cho các phẫu thuật viên thần kinh. 
Hiện nay, số phẫu thuật viên còn sống trên thế giới mổ thành công trên 100 trường hợp u nội tủy chỉ đếm được trên đầu ngón tay. 
Tuy nhiên, số bác sĩ đã từng mổ u nội tủy thì nhiều hơn, mỗi người mổ một hoặc vài ca và chỉ cần một trong số các ca đó thành công thực sự (nghĩa là lấy hết u mà bệnh nhân không xấu hơn) cũng xếp vào hàng “top” rồi.
Ngoài tay nghề cùa bác sĩ, sự thành công của ca mổ lấy toàn bộ khối u nội tủy phụ thuộc một phần vào phương tiện. 
Đầu tiên cần phả có kính hiển vi phẫu thuật. Bác sĩ sẽ không thể thành công nếu mổ bằng mắt thường bởi để bóc tách được khối u ra khỏi tủy cần phải phóng đại lên cỡ 16 đến 20 lần. 
Hiện nay một số bác sĩ Việt nam có thể giải quyết khá tốt những trường hợp u nội tủy. Các chuyên gia kỳ vọng trong tương lai, nước ta sẽ trở thành một trong một số ít nơi trên thế giới điều trị tốt những khối u này.
Ngoài các trường hợp nêu trên còn có một số ca khá đặc biệt là những u hình quả tạ đôi. Những khối u này thường có một phần nhỏ nàm trong ống sống, chèn ép vào tủy, phần u lớn hơn nằm ở ngoài ống sống, lan vào trong bụng hoặc ngực. 
Trước đây người ta phải mổ hai lần để lấy hết các khối u này. Tuy nhiên việc mổ nhiều lần không phải lúc nào cũng suôn sẻ vì trong nhiều trường hợp, khâu cầm máu tại vị trí khối u được cắt ở lần đầu rất khó khăn.
Với những trường hợp này, yêu cầu phải mổ lấy hết khối u trong một cuộc phẫu thuật là rất bức bách. Hiện nay có một kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu này đó là một đường mổ được thực hiện từ phía sau và luồn ra phía trước để lấy hết khối u dù nó nằm trong lồng ngực hay bụng. 
Hiện tại Việt Nam đã giải quyết thành công những khối u này mang lại hiệu quả điều trị cao không khác gì các trung tâm lớn trên thế giới.
Tóm lại, ngoài một số rất ít các trường hợp đặc biệt, đa số khối u tủy đều phải cần đến một cuộc mổ để giải quyết u, giải phóng sự chèn ép. Cuộc mổ sẽ dễ dàng nếu u ở trong màng cứng và ngoài màng tủy, sẽ khó điều trị hơn nếu u ngoài màng cứng, đặc biệt khó khăn nếu là u nội tủy.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons