ĐIỀU TRỊ BỆNH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN 0906143408

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Thực phẩm ngừa ung thư phổi

Đã có những bằng chứng nghiên cứu cho thấy một số loại thực phẩm có thể làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi.

Ung thư phổi là tình trạng phát triển không kiểm soát của các tế bào trong các mô của phổi. Tế bào ung thư sẽ phân chia và tự phát tán rộng khắp trên toàn bộ cơ thể. Điều này sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt vì càng nhiều tế bào phân chia thì cơ thể càng phải đối mặt với nhiều nguy hiểm hơn.
Có một số biện pháp để phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm này, trong đó có việc xây dựng một chế độ ăn uống hợp lý với những thực phẩm lành mạnh. Danh sách các "dũng sĩ" bảo vệ cho phổi bao gồm những loại:
Rau họ thập tự
Những hợp chất hiện diện trong các loại rau họ thập tự như bông cải trắng, bông cải xanh và cải xoong đã được chứng minh là giúp làm ngưng quá trình phát triển của ung thư phổi trong các nghiên cứu trên người và động vật.
Thực phẩm ngừa ung thư phổi - 1
Bông cải xanh cũng rất tốt cho phổi của bạn (Ảnh từ Internet)
Nước ép lựu
Nhiều kết quả ngiên cứu cho thấy, nước ép lựu có khả năng ngăn chặn tiến triển bệnh ung thư phổi.
Táo
Những người ăn nhiềutáocó cơ hội hạn chế nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi lên tới 50% nhờ vào hàm lượng các chất flavonoid như quercetin và naringin rất dồi dào trong loại trái cây này.
Thực phẩm ngừa ung thư phổi - 2
Những người ăn nhiều táo có cơ hội hạn chế nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi lên tới 50% (Ảnh từ Internet)
Bưởi trắng
Giống như táo, bưởi trắng cũng chứa nhiều quercetin và naringin. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ăn nhiều bưởi trắng sẽ làm giảm tỷ lệ mắc ung thư phổi.
Hành
Hành nằm trong danh sách những thực phẩm giàu quercetin và naringin. Do đó, càng ăn nhiều hành, khả năng mắc ung thư phổi càng giảm.
 

Theo Hồng Xuân - Phụ nữ TPHCM/ Helahtlob

Ung thư cơ vùng mông.



Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Ung thư cơ (thuật ngữ chuyên môn gọi là sarcôm cơ), không phải là loại ung thư rất thường gặp nhưng vẫn có thể xảy ra.
Tại BV Ung bướu TPHCM, trung bình một năm có khoảng 100 - 120 ca ung thư cơ mới. Nguyên nhân chưa được xác định rõ. 
Nhiễm dioxin được gợi ý có liên quan đến loại ung thư này. Vị trí thường gặp ở các cơ đùi, mông và tứ chi hoặc thân mình. Khởi đầu thường rất âm thầm không triệu chứng, có thể chỉ thoáng đau hoặc mỏi cơ.
Theo thời gian, thấy một vùng cơ nào đó sưng to, đau, nóng, ảnh hưởng vận động, trên da vùng cơ tương ứng có thể thấy tăng sinh nhiều mạch máu.
Chẩn đoán phải dựa vào hình ảnh CT hoặc MRI và sinh thiết để có giải phẫu bệnh. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật, sau đó tùy tình huống có thể phối hợp thêm hóa trị và xạ trị. Bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện sớm.



Theo Kiến thức

Ung thư máu và những điều cần biết

Ung thư máu bao gồm một nhóm ung thư mà tế bào ung thư có nguồn gốc từ tủy xương và hệ bạch huyết.



Các ung thư này bao gồm các bệnh bạch cầu và tiền hạch bạch cầu (còn gọi là hội chứng loạn sản tủy), u tủy (và ung thư tương bào khác), ung thư hạch bạch huyết. Trong mỗi loại ung thư kể trên, có rất nhiều phân loại phụ.
Mỗi phân loại phụ có thể có những đặc tính khác nhau và tất nhiên là điều trị khác nhau. Một số loại diễn tiến rất nhanh, trong khi ở một số loại khác, bệnh nhân có thể có cơ hội chữa trị khỏi rất cao.
Dấu hiệu và triệu chứng

Trong khi những loại ung thư khác có những nguyên nhân và tiên lượng khác nhau, thì các triệu chứng của ung thư máu có thể giống nhau: thiếu máu rất thường xảy ra, biểu hiện qua số lượng hồng cầu giảm khi xét nghiệm máu, do tủy bị tổn thương; mệt mỏi, yếu sức, khó thở, chóng mặt, chán ăn; xanh xao.
Bệnh nhân ung thư máu cũng thường hay bị nhiễm trùng, nên thường bị sốt tái đi tái lại và khó kiểm soát. Thỉnh thoảng, các hạch bạch huyết sưng to, lách phình to làm bệnh nhân có cảm giác nặng bụng.
Tình trạng xuất huyết thường xảy ra với bệnh nhân bệnh bạch cầu, biểu hiện là những vết bầm, chảy máu lợi, chảy máu cam.
Nhận biết về bạch cầu
Nhiều người nghĩ rằng, bệnh bạch cầu là bệnh ung thư máu.

Điều này không sai, tuy nhiên, đối với các chuyên gia huyết học thì ung thư máu bao gồm ung thư hạch (lymphoma), u tủy (Myeloma), bệnh bạch cầu (Leukemia), là những loại ung thư máu phổ biến nhất.
Đầu tiên, những căn bệnh ung thư này xuất phát từ các mô và tế bào máu. Con người có những loại tế bào máu khác nhau - hồng cầu, bạch cầu, huyết tương và tiểu cầu.
Ung thư bạch cầu được gọi là bệnh bạch cầu, xảy ra khi có sự gia tăng bất thường của những tế bào bạch cầu trong cơ thể. Ung thư các tế bào huyết tương gọi là u tủy. Ung thư hạch ám chỉ đến ung thư tế bào bạch huyết của hệ thống miễn dịch, nơi mà chúng biểu hiện là một khối u đặc.
Nên lưu ý rằng, nếu bạn có tiểu cầu cao trong máu, đó không phải là ung thư, mặc dù đây là vấn đề của tủy xương. Tuy nhiên, 5% đến 10% những tế bào này có thể phát triển thành bệnh bạch cầu sau nhiều năm.
Về cơ bản, có hai loại bệnh bạch cầu: cấp tính và mạn tính.
Đối với bệnh bạch cầu cấp tính, đặc trưng là sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các tế bào máu chưa trưởng thành. Do các tế bào này quá nhiều làm tủy xương không thể sản sinh các tế bào máu khỏe mạnh. Các dạng cấp tính của bệnh bạch cầu rất phổ biến ở trẻ em.
Bệnh bạch cầu mạn tính với đặc điểm có quá nhiều mức tế bào tương đối trưởng thành, nhưng vẫn là những tế bào bạch cầu không bình thường. Các tế bào này sinh sản ở tỉ lệ cao hơn nhiều so với tế bào bình thường, kết quả là có nhiều tế bào bạch cầu bất thường trong máu.
Trong khi bệnh bạch cầu cấp tính phải được điều trị tức thì các dạng mạn tính đôi khi được theo dõi một thời gian trước khi điều trị. Bệnh bạch cầu mạn tính thường xảy ra ở người lớn tuổi, nhưng về mặt lý thuyết, có thể xảy ra ở bất cứ nhóm tuổi nào.
Ung thư máu bao gồm một nhóm ung thư: Ung thư bạch cầu được gọi là bệnh bạch cầu, xảy ra khi có sự gia tăng bất thường của những tế bào bạch cầu trong cơ thể. Ung thư các tế bào huyết tương gọi là u tủy.
Ung thư hạch ám chỉ đến ung thư tế bào bạch huyết của hệ thống miễn dịch, nơi mà chúng biểu hiện là một khối u đặc.
Có người cho rằng nhuộm tóc là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh bạch cầu. Điều này không đúng, nhưng có một số nguyên nhân gây ra bệnh bạch cầu như bức xạ quá mức (ví dụ như tai nạn hạt nhân) hoặc các hóa chất như benzene.

Thông thường, rất khó để xác định một nguyên nhân đặc biệt cho một cá nhân bị bệnh bạch cầu.
Bức xạ cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ, nhưng dù điện thoại di động phát ra tia bức xạ vẫn không có bằng chứng nào kết luận sóng điện thoại, điện tử hay đứng gần trạm điện sẽ tăng bạch cầu.
Tuy nhiên, giảm sử dụng các thiết bị điện luôn được khuyến cáo. Mặt khác, bức xạ cũng là nguyên nhân gây bệnh bạch cầu.
Marie Curie, người phát hiện ra phóng xạ và chết vì bệnh bạch cầu. Sự kiện hạt nhân giống như vụ nổ bom Hiroshima và tai nạn Chernobyl dẫn đến gia tăng bệnh bạch cầu.
Một số tiến bộ y khoa trong những năm gần đây đã tạo sự khác biệt trong việc điều trị các bệnh ung thư máu, như cấy ghép tế bào gốc, tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không có cơ hội này vì không có người hiến phù hợp. Cấy ghép tế bào gốc cũng khá rủi ro vì nó dẫn đến nhiều biến chứng và có nguy cơ tử vong.
Những năm gần đây, những tiến bộ trong việc cấy ghép tế bào gốc máu cuống rốn làm tăng cơ hội tìm kiếm người hiến. Những tiến bộ khác như kháng sinh và các yếu tố tăng trưởng tốt hơn cũng làm cấy ghép tế bào gốc an toàn hơn.
Những tiến bộ khác bao gồm điều trị trúng đích với các chất ức chế tyrosine kinase và liệu pháp miễn dịch bằng kháng thể đơn dòng có tác động rất lớn đến việc gia tăng tỉ lệ sống của bệnh nhân bị bệnh ung thư máu.


Theo BS. TEO CHENG PENG - Doanh Nhân Sài Gòn

Nguy cơ ung thư tuỷ xương vì hút thuốc

Theo một cuộc nghiên cứu mới đây, những người hút thuốc lá có nguy cơ cao mắc phải các bệnh ung thư của hệ thống miễn dịch và ung thư tủy xương.


Các nhà khoa học làm việc tại phân viện nghiên cứu ung thư của viện dịch tễ học Anh quốc ở đại học Oxford dựa trên dữ liệu thu thập từ 1,3 triệu phụ nữ trung niên tham gia khảo sát đã đi đến kết luận trên.
Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu có tổng số 9.000 phụ nữ mắc phải bệnh tăng bạch cầu trong máu, bệnh ung thư hệ thống miễn dịch hay ung thư tủy xương trong một cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian mười năm.
Trung bình có 8 người trong số 1000 người hút thuốc lá đã mắc phải một trong các căn bệnh ung thư kể trên so với 6 người mắc bệnh trong số 1000 người không hút thuốc.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những phụ nữ hút khoảng 20 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ cao gấp đôi mắc phải bệnh u lymphoma dạng Hodgkin’s và một số chứng bệnh ung thư tủy xương khác.
GS. Valerie Beral, người mà các phát hiện y học được đăng tải trên tạp chí chuyên đề ung thư Anh quốc phát biểu: “Những kết quả từ cuộc nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng hút thuốc là một nguyên nhân quan trọng của bệnh ung thư. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều loại ung thư, không chỉ là bệnh ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị. Đây chính là vấn đề mà nhiều người còn chưa nhận thức được đầy đủ”.
Sara Hiom, Giám đốc phụ trách thông tin truyền thông của Viện Nghiên cứu ung thư Anh quốc cho rằng bỏ thuốc lá không bao giờ là việc làm quá trễ và khuyến cáo mọi người nên tìm lời khuyên từ bác sĩ của mình cũng như từ các tổ chức y tế ở địa phương nơi họ cư trú.

Theo Dân trí/netdoctor.co.uk

Phòng ngừa hiệu quả có thể kéo giảm 40% bệnh ung thư

Nếp sống lành, loại bỏ khói thuốc lá, tránh uống rượu quá đà, tập thể dục đều đặn có thể phòng ngừa và đẩy lùi gần nửa số ca ung thư trong tương lai.

Mỗi năm toàn hành tinh có 12,7 triệu người mới mắc ung thư và 7,6 triệu người chết vì căn bệnh này. Các ung thư gây chết người nhiều nhất là phổi, bao tử và gan. Dự tính năm 2030 sẽ có khoảng 21,4 triệu người mới mắc và 13,2 triệu người chết vì ung thư.
Bệnh ung thư đang là gánh nặng của xã hội
Bệnh ung thư đang là gánh nặng của xã hội
Theo số liệu mới được công bố tại Việt Nam cứ 100.000 nam giới thì có khoảng 37 người mắc ung thư phổi và 42 người mắc ung thư gan. Ở phái nữ, 100.000 người thì ung thư gan là 16 và ung thư phổi là 20. Đại dịch viêm gan vi rút HBV và HCV đang hoành hành nhưng tình trạng dùng bia rượu quá chén cùng với thức ăn không đảm bảo vệ sinh chứa độc tố aflatoxin khiến tình trạng bệnh ung thư gan mỗi ngày một trầm trọng thêm. Khói thuốc là đang là nguyên nhân hàng đầu của bệnh ưng thư phổi.
Đứng sau hai loại ung thư này là bệnh ung thư dạ dày do ô nhiễm nặng từ khói thuốc lá và thức ăn mặn (cá khô, mắm sống, mắm tôm…). Các bệnh đặc thù ở phụ nữ như ung thư vú, ung thư cổ tử cung cũng đang diễn tiến khó lường hơn. Bệnh ung thư đang trở thành gánh nặng của toàn xã hội, số bệnh nhân ung thư nhập viện điều trị đang tăng nhanh qua các năm.
Theo phân tích của GS Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam khoảng 80% nguyên nhân dẫn tới bệnh ung thư là do con người ăn uống, hít thở, cọ xát hoặc phơi trải. Trong đó ăn uống không lành như ăn nhiều muối, thức ăn hun khói, chế độ ăn nhiều thịt đỏ, mỡ béo, ăn ít rau quả, ít vận động khiến "bệnh theo miệng mà vào". Phân nửa bệnh ung thư có thể phòng ngừa được nếu mọi người theo nếp sống lành, loại bỏ khói thuốc lá, tránh uống rượu quá đà, tập thể dục đều.
Cần tích cực phòng ngừa các bệnh như ung thư cổ tử cung, viêm gan bằng vắc xin chủng ngừa. Cần chủ động khám sức khỏe định kỳ để có thể phát hiệm sớm các bệnh ưng thư cổ tử cung, ung thư đại trực tràng, tuyến tiền liệt… để được can thiệp kịp thời.
GS Nguyễn Chấn Hùng chỉ ra các dấu hiệu và triệu chứng báo động của bệnh ung thư khi mới chớm cần được chẩn đoán và điều trị bao gồm: Thay đổi thói quen của ruột, bọng đái (táo bón, tiêu chảy kéo dài; tiểu khó, rắt, buốt, ra máu lâu ngày); vết loét lâu ngày không lành; chảy máu hoặc dịch tiết bất thường (xuất huyết âm đạo, chảy máu, tiết dịch ở núm vú; chảy máu ở mũi, đi cầu ra máu...); phát hiện khối u lạ trên cơ thể (tay chân, thành bụng, ngực, cổ nách, bẹn...); nốt ruồi thay đổi tính chất (lớn nhanh, đổi màu sắc, ngứa loét, chảy máu, tiết dịch...); ăn không tiêu, nuốt khó (cảm giác đầy bụng kéo dài...); ho dai dẳng, khàn tiếng kéo dài (điều trị bằng tây y trên 3 tuần không khỏi).

Theo Vân Sơn - Dân trí

Sự liên quan giữa trầm cảm và tuổi thọ của bệnh nhân ung thư

Một nghiên cứu mới đây phát hiện ra rằng trầm cảm có thể làm giảm thời gian sống của bệnh nhân ung thư.


Trong nghiên cứu này, các tác giả thuộc Trung tâm ung thư M.D. Anderson ĐH Texas đã phân tích các khảo sát được hoàn thành trong thời gian 5 năm gồm 217 bệnh nhân có chẩn đoán mắc mới ung thư thận di căn. Những đối tượng tham gia trả lời các câu hỏi về tôn giáo và tinh thần. Họ cũng được hỏi về các triệu chứng trầm cảm, sự trợ giúp về mặt xã hội, chất lượng sống và các kỹ năng đối phó.
Bệnh nhân cũng cung cấp mẫu máu và 5 mẫu nước bọt hằng ngày trong 3 ngày. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng mẫu nước bọt để theo dõi những thay đổi về nồng độ cortisol của bệnh nhân, một hoóc-môn stress thường tăng cao vào buổi sáng sau đó giảm dần trong ngày.
Tại thời điểm phân tích, 64% số bệnh nhân đã tử vong. Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân sau khi có chẩn đoán ung thư là 1,8 năm.
Nghiên cứu phát hiện ra rằng 23% số bệnh nhân bị trầm cảm. Thậm chí sau khi tính đến các yếu tố nguy cơ khác có liên quan, nhóm nghiên cứu vẫn thấy rằng trầm cảm làm giảm thời gian sống thêm của bệnh nhân. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra là nồng độ cortisol cao hơn bình thường trong cả ngày cũng liên quan với giảm thời gian sống ở bệnh nhân ung thư.
Mặc dù nghiên cứu này phát hiện ra mối liên quan giữa trầm cảm và thời gian sống sót sau ung thư song nó không chứng minh mối quan hệ nhân quả. Các tác giả cho rằng cần nghiên cứu thêm để tìm hiểu xem liệu điều trị trầm cảm có thể cải thiện thời gian sống ở bệnh nhân ung thư bị các rối loạn tâm trạng ở mức nhẹ, trung bình hoặc nặng hay không.

Theo Dân trí/Healthday

Hội chứng chèn ép tủy sống thường gặp trong ung thư

Hội chứng chèn ép tủy sống là một tai biến thường gặp trong ung thư, gây đau đớn và có thể gây mất chức năng thần kinh không phục hồi được.


Ảnh minh họa

Khi có tổn thương nguyên phát di căn đến cột sống gây chèn ép tủy sẽ gây ra hội chứng này. Ở người lớn, phần cuối cùng của tủy sống tương đương mức đốt sống thắt lưng 1, dưới mức này là đám rối thần kinh thắt lưng cùng tạo nên tổ chức đuôi ngựa trôi nổi trong dịch não tủy.
Nếu các tổn thương đốt sống, tủy sống phần trên mức thắt lưng 1 thì nguy cơ tổn thương gây chèn ép tủy sẽ cao hơn. Các ung thư thường gặp như di căn cột sống là ung thư tiền liệt tuyến, ung thư vú, phổi, thận, ulympho không hodgkin, đa u tủy xương...
Triệu chứng như đau lưng có tính chất lan tỏa tại vùng đốt sống bị tổn thương chiếm 90% các trường hợp, yếu cơ có thể do bệnh nhân cảm nhận, hoặc do thăm khám phát hiện của thầy thuốc chiếm 75%.
Tình trạng yếu cơ nhanh cần phải phối hợp với bác sĩ ngoại khoa thần kinh, các nhà xạ trị để có biện pháp điều trị gấp, tránh các tổn thương thần kinh không phục hồi. Một số tổn thương tủy sống đoạn thấp có thể gây rối loạn cơ tròn bàng quang, trực tràng gây bí đái, bí ỉa. Rối loạn cảm giác, dị cảm, mất cảm giác cũng thường gặp.
Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hiệu quả nhất, CT cũng có giá trị cao, xạ hình xương chỉ có giá trị xác định có tổn thương đốt sống, không phát hiện được tủy sống bị ảnh hưởng.


 Theo GS.TS Nguyễn Bá Đức - Kiến thức

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons